Bảy đêm quái đản đêm
thứ 1:
Tủ
sách trên ban công Vào cái đêm đó, phòng của
Trương Khiết ở trên tầng tư cửa đóng kín mít, bên trong tối thui, câu
lạc bộ của những kẻ quái gở hoạt động buổi đầu tiên. Tất cả thành viên
đều có mặt. Không khí trong phòng càng trở nên rờn rợn khi các thành
viên thì thào chào hỏi nhau rồi chìm vào tĩnh lặng. Chút ánh sáng nhờn
nhợt của ánh trăng ngoài hiên cửa hắt vào làm mọi vật thật huyền bí.
Bên ngoài cái bóng của cây bạch dương ngả nghiêng vào tòa nhà như cấp
số nhân của khung cảnh ảm đảm làm ai cũng cảm nhận được cái hoang vu
lạnh lẽo đến gai người. Gió xao xác thổi
nhẹ đám lá, hai cô gái nhát gan Hà Tiểu Đinh và Triệu Dục Tịnh nắm lấy
tay nhau ghì chặt, họ toát nên vẻ cam chịu ngồi nhìn bốn phía. Trời về
đêm se lạnh và hai người họ cũng phát hiện ra tay của bạn mình cũng
đang lạnh toát. Cũng thật may là trong phòng tối thui nên không nhìn
thấy nét mặt tái dại của nhau, đỡ xấu hổ. Trong lòng mỗi người đều thấy
hoảng loạn.
Vương Thổ là người
thích kể chuyện nhất, anh hắng giọng rồi nói: “Hội kinh dị” đi vào hoạt
động đối với một người hâm mộ như tôi là một sự kiện hết sức quan trọng
vì vậy tôi sẽ không để lỡ cơ hội được phục vụ các bạn. Những câu chuyện
ly kỳ thú vị lúc tôi còn là sinh viên ngồi trên giảng đường đại
học.
Lúc đó đã là sinh
viên năm thứ tư, cả bốn năm đều ở ký túc xác. Ồ, thế nên miễn bàn về
điều kiện ăn ở tồi tàn. Bấy giờ đến lúc tôi chuẩn bị viết luận văn, hôm
nào tôi cũng về muộn nên rất hay bị nhốt ngoài cửa ký túc. Cũng vì thế,
cũng vì tiện cho công việc tôi cùng một vài người bạn ra ngoài thuê một
căn phòng.
Vừa dọn vào ở
phòng mới tôi đã bị cái giá sách cũ của chủ nhà làm cho hết hồn hết
vía. Lúc đó hai tay tôi đang lễ mễ ôm một thùng to đựng đầy chuyện
tranh và họa báo các bạn tôi ở nước ngoài gửi tặng. Tôi còn đang chưa
biết nên đặt ở đâu. Vì đúng là đã xem đi xem lại chúng khá nhiều lần
rồi, trong một thời gian ngắn tới tôi chưa chắc sẽ động tới chúng,
nhưng bảo vứt đi thì thật là tiếc, dù gì thì những quyển tạp chí này
cũng không dễ gì mà mua được. Mặc kệ ai muốn cười nhạo gì thì cứ cười
nhạo tôi cũng sẽ vẫn gửi chúng.
Điểm này thì “Tôi
giống với cụ ông nhà tôi thế, ba cái đồ rách rách nát nát tôi thường
rất tiếc rẻ” đi đâu cũng đùm đùm, bọc bọc.
Tôi đi vòng vòng
quanh nhà, thấy năm người mà có ba phòng ngủ một phòng khách thì hơi
chật chội. Mà sẽ nghiêm trọng hơn vào lúc cả năm người cùng quậy phá.
Sau đó tôi mở cửa ban công, chớp mắt tôi nhìn thấy ngay bên trái trong
đống bụi bậm là một cái tủ sách. Nói như vậy chưa hoàn toàn chính xác,
mà đúng ra là tôi tìm thấy một cánh của chiếc tủ. Một bên còn lại thì
bị một chiếc thuyền dựng đứng chặn mất rồi. Cả hai thứ vật dụng rách
nát này đều là thứ đồ cũ bỏ đi.
Tôi liền tiến đến
xem với ý nghĩ biết đâu dùng được vào việc gì. Tôi đi vào ban công và
loáng thoáng nhận ra có bóng người. Tôi luống cuống quay lại bắt gặp
ngay điệu cười bí hiểm. Bên trái ban công quả nhiên có người. Tôi
thoáng giật mình, trấn tĩnh lại thì thấy đó chỉ là cái bóng của người
mà thôi. Vì ở đó đặt một chiếc gương rất to và bên trong đó hiện lên
ảnh của chính tôi. Nhưng do chiếc gương đã quá cũ và bụi bẩn nên cái
hình ảnh ấy trở nên méo mó và loang lổ. Một chiếc gương to thế này sao
ai lại để ở đây, chỉ có thể soi thấy mỗi cái giá sách cũ rích này mà
thôi. Nghĩ vậy tôi cũng chẳng để ý gì thêm về cái gương ấy nữa mà đi
thẳng đến giá sách, để sách xuống đất trước đã. Nhìn vào nét chạm trổ
trên cánh cửa tủ thì đây là cái tủ quá lỗi thời. Vách ngăn thì gãy nát,
gương kính thì nứt vỡ, bên trong la tạp nham báo cũ, đúng là cái giá
sách này cũng khá là có thâm niên rồi.
Khi tôi đưa tay mở
ngăn tủ, một cơn rùng mình xuất hiện, cảm giác thật không thoải mái
chút nào, như thể có chuột bò qua chân. Chỉ là một chiếc tủ sao lại ớn
lạnh đến vậy. Tôi nghĩ trong đầu, giữa mùa hè cái gì cũng nóng ran, vậy
mà cái tủ này phả ra khí lạnh điếng người.
Tôi từ từ mở cửa
tủ. Kẽo kẹt, xem ra cánh cửa này bắt đầu xiêu vẹo. Mùi nắm mốc xộc lên
quá khó chịu khiến tôi phải quay đầu bước vội đi, loáng choáng giậm
ngay vào đống báo ngã sõng soài. Quả thật trong cái tủ đó có bóng
người, một người có vóc dáng nhỏ con, đôi mắt sáng quắc nhìn tôi trừng
trừng. Lúc này hai người bạn học của tôi là Vương Nhuệ và Hoắc Hà nhìn
đăm đăm vào cái thùng cát tông kín mít đầy vẻ chán nản. Tôi nhận ra khi
dọn đồ đến nhà mới con người còn đôi chút hứng thú, chứ đến khi dọn nhà
xong cái cảm giác còn lại là sự mệt mỏi vô hạn. Sau những mệt mỏi đó
Hoắc Hà quyết định tạm làm con gà lười “Có gì ngày mai rồi tính! Hôm
nay nghĩ nghơi cái đã, tối ra ngaoi2 làm một vòng xem quanh đây có chỗ
nào uống rượu thú vị không?”
Vương Nhuệ lên
tiếng “Đến thế là cùng, vừa nói mệt mỏi đã lại có tinh thần ăn chơi.
Viển vông quá, bớt lằng nhằng, đi ra dọn thùng vào nào”. Hoắc Hà bất
đắc dĩ đành ra cầm con dao đẹp đẽ lên chuẩn bị làm việc. Tiếng hét của
tôi vọng từ ban công xuống làm hai người bọn họ giật mình. Hoắc Hà
thiếu chút nữa đã tự cắt vào tay. Hai người họ vội phi ngay lên ban
công. Trần Hồ Huy và Khương Phượng đang trong phòng khách nghe thấy vậy
cũng lao lên. Ngay lập tức năm người đàn ông chen chúc nhau trên chiếc
ban công chật ních. Thấy sự việc không hề có gì cả, Hoắc Hà trợn mắt
nhìn tôi, tức giận nghiến vào chân tôi một cái rồi nói. “Có mỗi khác người
gỗ mà anh la toáng lên cái gì. Anh có biết suýt nữa em đã cắt vào tay
mình không, đàn ông đàn ang lớn đùng rồi mà gan của anh không to hơn
gan một con mèo là mấy.”
Trên thực tế trong
ngăn tủ là một bức tượng bằng gỗ. Nó cao bằng nửa người thật, thảo nào
trong bóng tối tôi nhìn nhầm thành người, hết cả hồn. Tôi cũng chả hơi
đâu đi để ý sự cười nhạo cùa người khác vì rõ ràng nó vừa giương giương
nhìn tôi, có lẽ nào mắt tôi hoa? Tôi đi xem kỹ lịa thì bức tượng hiện
ra là bộ mặt của một ông già da mặt xù xì, sắc mặt bình thường đặc biệt
là đôi mắt mông lung chứa đựng nhiều uẩn khúc. Khương Phương rất hào
hùng nhắc bức tượng lên vần vò, món đồ chơi này thật độc đáo, mà cậu
chơi vậy cũng thật liều lĩnh. Nếu bức tượng đó mà rơi xuống thì thật sự
là có thể làm cho cái chân của Vương Thổ sưng vù. Lẽ nào cậu ấy không
sợ chăng? Trong tiếng cười nói của mọi người, tôi thấy mình hơi xấu hổ.
Tôi cũng định thanh mình gì đó nhưng thật ra cũng chẳng biết nên nói
thế nào.
Vương Khuê đắc chí
chòng ghẹo tôi. “Cứng lưỡi rồi
phải không? Cậu chỉ có thể giữ bình tĩnh không bị hết hồn hết vía nếu
có chuyện gì xảy ra với trò chơi mà thôi cậu bé ạ.” Khương Phương
thích thú. “Tôi! Bạn còn nhớ
hồi năm thứ nhất chúng ta đã chạy vào rừng lợn lòi giả quỷ dọa bọn con
gái thế nào đấy chứ. Tôi nào dám.” Vương Nhuệ cắt
ngang những lời lẽ xỏ xiên. “Thôi được rồi,
được rồi. Câu chuyện kỳ tích của cậu chúng tôi đã nghe cả hơn hai trăm
lần rồi. Tôi đang nghĩ thật ra khúc gỗ này cũng rất đặc sắc đấy chứ.
Tôi sẽ để nó trong phòng mình.” Khương Phượng cười
ẩn ý. “Thế nào? Định
biến thành tượng thần đấy hả? Biết đâu đấy lại là thần tài”. Nói xong
anh ta lấy cái tượng gỗ đưa cho Vương Nhuệ. Anh ta đỡ lấy mà không hề
nghĩ đó là cố ý. Khương Phượng cười lớn, dúi bức tượng vào lòng Vương
Nhuệ. “Mang đi mà thắp
hương!”
Sau một hồi òm
tỏi, cả đám giải tán. Tôi ở trên ban công một lúc, nghĩ lại ánh mắt của
pho tượng lúc trước. Một cảm giác ngẫu nhiên thấy mình không hề hoang
tưởng. Tại sao lại bỏ người gỗ nhốt lại, khóa lại. Tôi càng nghĩ càng
thấy chủ nhà này địch thị là một người kì dị. Định thần rồi, tôi xem
xét lại cái tủ sách. Nhìn vào thật không như những gì tôi nghĩ. Cái gái
sách này có rất nhiều hốc vách ngăn nhỏ. Nếu như không mở nốt cánh cửa
còn lại thì cũng chẳng chứa được nhiều đồ. Tôi thấy một chiếc bể cá khá
to bên trong. Biết là mình lại lãng phí thời gian và sức lực vào việc
vô bổ. Nhưng tôi lại nghĩ hay cứ nhét cái bể cá này vào dưới gương vậy.
Đi khỏi ban công tôi gặp Khương Phượng kéo theo Vương Nhuệ. “Cái gương to thế
này mà để trên ban công thì thật là lãng phí. Khương Phượng gật
gù. “Thế thì kê vào
phòng khách ban ngày chúng ta có thể cùng ngắm vuốt.” “Nhưng mà cũng
đừng để ở đối diện cửa phòng tôi đấy nhé!” Vương
Nhuệ. “Gương cũng là bùa
đấy. Có thể ngăn mọi cái không sạch sẽ, chặn cả âm khí không cho vào
phòng của chúng ta đấy”. “Thượng đế sẽ phù
hộ cho cậu, hà hà…” Khương Phượng quay
đầu không thèm để ý. “Kê đối diện với
phòng tôi là được chứ gì! Cuộc đời tôi đáng tiếc nhất là chưa được gặp
ma quỷ lần nào. Nếu ma quỷ xuất hiện trước mặt tôi dù chỉ một lần thôi
thì cũng coi như không còn gì để tiếc”.
Trừ tà? Trong tôi
chột dạ ngoái đầu nhìn cái tủ sách, bắt đầu thấy luồng khí lạnh lan tỏa
tôi vội vàng rời khỏi ban công, chỉ còn nghe sau lưng tiếng hai người
xì xào việc đặt để chiếc gương.
Năm người chúng
tôi bấy giờ cũng lập ra một phòng tranh hoạt họa. Cả nhóm đều học
chuyện ngành mỹ thuật rất thích vẽ, đặc biệt là vẽ tranh hoạt hình. Mà
chúng tôi cũng chẳng ai chịu yên phận cam chịu cuộc sống. Bắt đầu khởi
nghiệp hứa hẹn một việc đại cát đại lợi. chúng tôi đều tự thưởng cho
mình làm ông bà chủ. Những ngày đầu chúng tôi rất khí thế vào hẳn gần
trung tâm thành phố thuê một căn phòng hai tầng chuẩn bị một cơ ngơi bề
thế.
Qua vài tháng
chúng tôi cũng phát hiện ra tài chính kinh tế lâm vào tình trạng o ép,
khách hàng thưa thớt, tiền thu về càng ngày càng ít. Không đủ khả năng
duy trì cái văn phòng to đẹp ấy nữa. Lực bất tòng tâm nên đành chuyển
văn phòng đến chỗ mới.
Tuy là một nơi xa
một chút nhưng phòng làm việc có thể kiêm luôn vai trò của một ngôi nhà
nhỏ. Căn phòng mới thuê năm trong khu tập thể số nhà 402 còn tạm được.
Chủ nhà là một người khá hoàn cảnh. Đang lo lắng khoản tiền đóng học
cao đẳng cho cậu con trai thì bố ông ta qua đời. Ngôi nhà do đó mà cũng
thừa ra. Tôi và Trần Hồ Huy đến xem xét tình hình thì thấy ông chủ nhà
này cũng không biết gì về ngôi nhà cho lắm. Vì có nhiều vấn để đều
không trả lời chúng tôi được. Thế nên không tránh khỏi sự nghi ngờ của
Trần Hồ Huy. Anh ta thì thầm. “Ông ta phải chăng
là một kẻ lừa đảo?”
Ông chủ nhà thoáng
qua hành động đoán được sự nghi ngờ của chúng tôi nên có đôi chút
ngượng ngập giải thích. Bố ông là người tính lập dị, không chỉ hàng xóm
mà đến cả cháu gái của mình cũng không muốn tiếp xúc. Cũng chỉ vì tôn
trọng ý nguyện của bố nên ông đã đồng ý để bố được ở một mình. Ra là
vậy, hai chúng tôi cũng phần nào bớt lo lắng. Xem qua căn phòng thì mọi
điều kiện tạm ổn. Giá thuê nhà cũng hợp lý, chỉ có điều căn phòng quá
bẩn thỉu, lông chim, thùng sọt, các góc cây điêu khắc chạm trổ, đá sỏi…
Ông lão này thu gom được đồ đạc với khối lượng và chủng loại cũng muôn
màu muôn vẻ. Chủ nhà trấn tĩnh chúng tôi, “cứ yên tâm đi chỉ cần một
loáng là tất cả sẽ được dọn dẹp sạch bóng”. Chúng tôi quyết định thuê
căn nhà đó. Trong vài ngày sau, xe của công ty vận chuyển đến dọn hết
đồ của chúng tôi về nhà mới. Những ngày đầu đã quá nhiều chuyện xảy đến
với chúng tôi, không chỉ là việc của cái tủ sách mà con việc nữa cũng
làm chúng tôi không vui.
Khi Khương Phượng
đang hướng dẫn nhân viên công ty dọn nhà, có một người khoảng ba mươi
tuổi dáng vẻ hơi gầy gò chủ động bước tới hỏi thăm. “Xin chào! Cháu
mới dọn đến?”
Khương Phượng
“Vâng ạ! Chú cũng ở tòa nhà này ạ?” Người đàn ông gày
nói “Tôi ở tòa bện cạnh, phòng 301! Thế còn các cháu?” Khương Phượng
“402”.
Vừa nói dứt lời
Khương Phượng thấy sắc mặt của người đàn ông biến sắc, có vẻ rất ngạc
nhiên, sững người một lúc rồi hỏi. “Là căn phòng của
ông già kì dị vừa chết?”
Khương Phượng
“Vâng, trước đúng là có một ông lão ở đây”.
Người đàn ông lấy
lại sắc thái bình thường, một lúc lâu sau than thở một câu “Các cháu ở
đó cẩn thận đề phòng bất trắc”. Buông thõng câu nói dở dang, người đàn
ông bước đi. Tối đến, việc dõn nhà làm chúng tôi mệt nên gọi mấy suất
cơm hộp, rồi cùng ngồi xúm xít bên bàn ăn. Quay ra cười nhoẻn với tôi
một cái Khương Phượng kể cho mọi người nghe về người đàn ông gày gò
sáng nay. Vương Nhuệ có đôi chút căng thẳng “Biết đâu đấy, căn phòng
này có gì đó bất ổn thật? Vừa có người chết, nên tiền thuê nhà mới
rẻ.”
Khương Phượng khua
khua tay “Không có đâu, sức mấy mà đi tin những lời nói ấy? Chuyện
huyễn hoặc!” Hoắc Hà tiếp lời
“Mà biết đâu chính người đàn ông đó có vấn đề bĩa ra ma quỷ để dọa hàng
xóm?”
Tôi ngồi im thin
thít ngẫm về cái giá sách, cái giá sách. Cái gương to trên ban công giờ
đã kê trong phòng khách, khúc tượng gỗ được Vương Nhuệ lau sạch sẽ đặt
trong phòng anh ta. Giữa lời bàn tán của mọi người tôi vẫn chưa hiểu lý
do khi thấy cái giá sách sống lưng tôi lại lạnh toát. Cả đêm hôm ấy tôi
không ngủ nổi, thời tiết thật nóng, bên ngoài cửa sổ mèo đêm đi hoang
gọi bạn. Trăn trở mãi rồi cũng thiếp đi, ba phòng ngủ một phòng khách
thênh thang mà nằm cả tiếng rồi tôi vẫn thấy không khí bí bách. Không
còn biết trời đất là gì nữa thì tôi bỗng bừng tỉnh. Muốn ngồi dậy vươn
tay vươn chân một lúc nhưng cảm giác toàn thân như bị cuốn chặt. Chân
tay động đậy chạm ngay vào cái gì đó cứng nhắc. Tôi gang81het61 sức đẩy
cái vật lạ đó đi mà không tài nào đẩy nổi, lấy lại bình tĩnh, thử làm
lại nhưng vẫn vô ích: tôi bị nhốt trong một cái thùng gỗ. Nhưng thực sự
thì là cái gì? Thùng gỗ hay quan tài, cùng lúc đó sực lên cái mùi thối
rữa. Chính là cái mùi mà sáng nay tôi vừa ngửi thấy. Cái giá sách, tôi
đang bị nhốt trong giá sách. Toàn thân tôi nổi da gà, dựng tóc gáy, tim
đập thình thịch, tất cả hình ảnh đáng sợ bao trùm lên suy nghĩ hoảng
loạn của tôi.
Tôi bị nhốt trong
tủ sách! Chính cái tủ sách đấy!
Tôi gồng hết sức
mình, muốn thoát ra khỏi nơi đây. Nhưng trong cái tư thế chật chội này
tôi thật là lực bất tòng tâm. Sự hoang mang hơi thở gấp gáp vang đi
vọng lại trong cái tủ sách chết tiệt này! Cứu tôi! Cứu tôi
với!
Tôi gào thét mà
không thấy cổ họng mình phat1 ra bất cứ thứ âm thanh nào. Xung quanh
vẫn chỉ là một màn đêm đen kịt. Ngoài cảm giác chật chội và thứ mùi hôi
thối này ra tôi không còn một cảm nhận gì nữa. Trong cơn hoảng loạn tôi
mới thấm cảm giác yếu mềm khi xưa. Một cận bé tám tuổi vùng vẫy trong
nước mà không có cách nào tìm lại được thăng bằng. Trong mênh mang biển
nước làm tôi thấm thía được thế nào là tuyệt vọng.
Cuối cùng cũng
tỉnh thật, lần này là tỉnh lại thật. Tôi chưa bao giờ thấy biết ơn vì
đã tỉnh lại như lần này. Gượng dậy bật đèn, tôi không kìm nổi mình thở
phào nhẹ nhõm, cũng không dám ngủ tiếp nữa. Nhìn lên đồng hồ, mới ba
giờ sáng, vậy mà tôi tưởng như mình đã bị nhốt trong cái giá sách đó cả
mấy ngày mấy đêm rồi. Trông bộ dạng của tôi chẳng khác gì vừa được vớt
từ dưới nước lên. Toàn thân ướt đẫm mồ hôi, vớ được cái khăn lau qua
cái mặt mà tim vẫn thình thịch sợ hãi. Mở cửa ra tôi định đi tắm một
cái thì nghe trên ban côn có tiếng sột soạt, ngay lập tức tôi nghĩ đến
cái giá sách ma quái kia. Tôi chạy cuống cuồng về phòng, tắm cũng chẳng
dám đi nữa. Cứ như vậy mà qua một đêm.
Cuối cùng trời
cũng sáng, tôi yên tâm hơn một chút mà ngủ. Sau một đêm mệt nhọc đặt
người xuống, tôi như một hòn đá. Không còn biết đến cả tiếng Khương
Phượng gõ cửa nữa.
Khương Phượng ngủ
dậy, đã mười giờ rồi mà rõ ràng tối qua cậu ấy đã đặt đồng hồ. Đặt buổi
sáng chín giờ, cái đồng hồ cổ lỗ ngày nào cũng phải lên dây cót mới
kêu. Nhưng âm thanh của nó thì to vô cùng. Mấy người cùng phòng đã mấy
lần gạ gẫm đổi chác với cậu ấy đều bị cậu chàng từ chối. “Đây là món đồ kỉ
niệm từ ngày bố mẹ tôi yêu nhau nó rất ý nghĩa với tôi.” Khương Phượng
nói thêm. “Đồng hồ báo thức
mà không kêu thì đánh thức mọi người sao nổi?” Sáng ngày hôm đó
đồng hồ không hề kêu để đánh thức Khương Phượng làm cậu ấy không khỏi
cáu bẳn. Lẽ nào đã đến lúc nó dở chứng. “Mày chỉ thỏ đến
đây thôi sao?”
Tính cầm cái đồng
hồ đi sửa thì mới thấy là nó đã biến mất. Nó không còn ở dưới gối nữa
rồi. Cái này thì lạ này: Khương Phượng nhớ rõ ràng là tự tay mình để
đồng hồ dưới gối tối qua, trong lúc mê man cữa quậy đầu anh vẫn chạm
vào nó cơ mà. Sao giờ này lại không thấy nữa? Tìm kỹ rồi vẫn không thấy
đâu, bò cả xuống xem dưới gầm giường cũng không có. Anh ta tìm đến Trần
Hồ Huy cùng phòng hỏi han. Thì câu trả lời là không biết. Hỏi đến cả
hai người cùng phòng bên cũng chẳng có ai biết gì cả. Lúc này Vương
Nhuệ cũng hậm hực nói rằng mình bị mất đôi tất. Cậu thề rằng vừa lấy
đôi tất sạch ra vắt lên thành ghế bên cạnh giường, giờ thì không
thấy.
Chỉ một đêm đầu
đến nhà mới mà đã mất hai món đồ, thật là lảm người ta tức quá đi. Mọi
người cùng bới tung mọi ngóc ngách nhưng chẳng thấy tăm tích gì. Khương
Phượng để ý đến cánh cửa phòng tôi vẫn khóa im lìm.
Vương Nhuệ nói “Có
lẽ nào hôm qua chúng ta cười nhạo anh ta nên anh ta trút giận trả thù
chúng ta chăng?” Trần Hồ Huy lắc
đầu, nói rằng tôi cũng không đến nỗi nhỏ mọn vậy, hơn nữa nếu đã vậy
thì giáu cái gì chứ giấu đôi tất thì chẵng bõ. Nếu là tôi “Chí ít
thì cũng phải cái điện thoại.”
Mọi người đều thấy
câu nói này không vô lý. Khương Phượng không cam tâm vẫn muốn tim tôi
hỏi lại cho ra ngô ra khoai. Nhưng gõ cửa thế nào cũng không thấy trong
phòng có động tĩnh gì cả, chỉ vọng ra tiếng ngày ngủ nên anh ta đành bỏ
đi.
Khương Phượng bất
lực than vãn “Anh ta ngủ thật như một con lợn!” Tôi ngủ một mạch
đến chiều. Các đồng sự ai vào chỗ người đấy bật máy lên làm việc hết
rồi. Gần đây chúng tôi có vài vụ làm ăn nhỏ, làm một bộ thiết kế về
chuyện tranh anh hùng. Nhà sách yêu cầu là phải theo phong cách Nhật,
việc cũng chẳng gấp nếu không bị mất mấy ngày dọn nhà. Vì thế chúng tôi
phải gấp rút hoàn thành kế hoạch. Giờ mới dậy tôi không tránh khỏi
ngượng ngập vì lười biếng. Ăn qua loa ít bánh mì và sữa, chào hỏi các
đồng nghiệp, Khương Phượng dợi người đến là hỏi ngay việc mất món đồ,
nhưng tiếc là hỏi gì tôi cũng không biết.
Khương Phượng chửi
thề “Cái quỷ quái gì đang diễn ra?” rồi không nói gì thêm nữa.
Đồng hồ và tất
cũng chẳng đáng giá gì mất rồi thì thôi. Nhà có ma! Trong lòng tôi vẫn
thấy rờn rợn nghĩ đến chuyện đêm qua và âm thanh từ ban công vọng lại.
Lẽ nào vẫn liên quan đến giá sách. Tôi định nói với Khương Phượng nhưng
lại ngại bị anh ta chế giễu, chẳng nói ra nữa, giữ trong lòng vậy.
Khương Phượng mua một cái đồng hồ mới, Vương Nhuệ đổi đôi tất khác, mọi
chuyện như chưa hề diễn ra. Hoắc Hà gợi ý, biết đâu ngày mai đồng hồ
lại kêu lên ở đâu đó.
Khương Phượng
chẳng lấy gì làm vui vẻ, nói “Mỗi lần lên dây cót chỉ dùng được một
lần.”
Tôi cũng không còn
mơ thấy ác mộng nữa. Mỗi ngày chỉ biết trấn an mình. Xem có ai bị mất
đồ thêm nữa không, nhưng ba ngày liên tiếp không có chuyện gì xảy ra
cả, xem ra cái đêm hôm mất đồ chỉ là một sự tình cờ, mà cũng có lẽ tại
hai người họ nhớ nhầm, lẫn lộn lung tung. Tôi do đó cũng an tâm hơn.
Công việc cũng thuận lợi đi đến thành công. Đối tác rất vui vẻ và hẹn
sau nữa tháng sẽ thanh quyết toán hết, mọi việc diễn ra thật tốt đẹp.
Thế mà qua được vài hôm lại bị mất đồ, lần này là chai nước hoa của
Trần Hồ Huy. Hoắc Hà mới làm quen được với một cô gái trên mạng hôm nay
là buổi đầu tiên hẹn hò nhưng anh ta có một nhược điểm là cơ thể nặng
mùi. Sợ khiến cô bé ấn tượng không tốt. Trần Hồ Huy “Tôi
có một lọ nước hoa vẫn chưa dùng” Lấy đưa Hoắc Hà
dùng mà đi cưa cẩm. Nhưng đến lúc tìm thì không thấy. Trần Hồ Huy sững
sờ.
“Rõ ràng tôi để
trong ngăn kéo, hôm dọn nhà vẫn thấy ở đây, giờ biến đâu mất rồi”. Hoắc
Hà cũng tìm giúp mà không thấy nên đành đi không vậy. Tối Hoắc Hà nhăn
mặt trở về: buổi gặp mặt có vẻ không như mong đợi. Đám chúng tôi không
nhịn nổi lại bàn tán về món đồ mất tích.
Khương Phượng giáo
đao “Mấy hôm trước chúng ta không biết mất đồ mà rất có thể là do mất
những thứ không hay sử dụng nên mọi người không ai để ý, bây giờ mọi
người cùng xem xét kĩ lại.”
Lục lọi đồ đạc mới
phát hiện còn mất thêm vài món đồ nữa, Khương Phượng bị mất cái đĩa CD
mà cậu thích nhất. Hoắc Hà mất cái bưu thiếp quan trọng. Vương Nhuệ
cũng thấy thiếu thiếu món đồ gì đó. Họ hỏi đến tôi
“Tôi, tôi bị mất một bên hoa tai!”
Tất cả chúng tôi
họp lại đều cảm thấy ở đây rất kỳ lạ, đến giờ phút này vẫn chưa thấy
mất tiền, cũng không mất đồ gì giá trị. Nhưng tức một nỗi đó đều là
những món đồ đã và đang dùng đến. Chúng tôi ai cũng bị mất thứ gì đó.
Đấy là cả sự vô lý. Những lúc bình thường sơ hở phòng không có ai đã
đành nhưng đợt này vì vẻ Soho cả bọn ở nhà cả ngày có ai đó dám lấy đồ
đi ngay trước mũi chúng tôi.
Hoắc Hà nói “Hay
gặp phải ai đó tâm lý biến thái cố tình dựng chuyện?” Hà vốn dĩ thích
đọc chuyện trinh thám nên có việc gì xảy ra là nghĩ ngay đến điều không
bình thường.
Vương Nhuệ cũng
“Có thể là con vật gì đó thích tha những món đồ nhỏ đi giấu đâu đó, ví
dụ chim, khỉ hay đại loại như thế”. “Có thể lắm chứ,
có người trong lòng biến thái nuôi một con chim, hay khỉ chuyên đi ăn
cắp vặt của chúng ta.” Khương Phượng
giọng pha chút tức giận. “Con chim hay con
khỉ đó nó còn có thể tàng hình, có thể vào nhà qua khe cửa bảo vệ, hay
có thể mở cánh cửa vào nhà mà không bị chúng ta phát hiện”. Nói đến
đây, chúng tôi càng thấy ông chủ căn nhà này rõ ràng là người không
bình thường. Lắp cái cửa bảo vệ gì mà thô kệch, kỳ cục, xấu xí, lưới
bảo vệ nhỏ tí, kín mít mà có tận ba cái khóa! Khương Phượng hỏi
tôi “Vương Thổ, cậu có ý kiến gì không?” Tôi nghe ngóng một
lúc lúng túng trả lời “Tôi cũng chẳng biết nữa, cũng chẳng biết sao lại
mất đồ nữa.” Khương Phượng
không tò mò nhìn tôi “Cậu có sao không? Sắc mặt có vẻ không
khỏe?” “Tôi… tôi hơi đau
dạ dày, tôi về nằm nghỉ một lúc”, nói xong tôi đứng dậy về phòng. “Có
cần uống thuốc không?” nghe Trần Hồ Huy gọi với theo.
Nhưng tôi chẳng
nghe rõ anh ta nói gì cả, cứ thế đóng cửa lại. Vì sao có mỗi tôi là
không mất đồ? Tôi nằm vật trên giường mà toàn thân thấy toát mồ hôi
hột. Những việc này có liên quan đến tôi chăng? Tôi có một linh cảm có
cái gì đó đang làm hỗn loạn suy nghĩ của mình như có ghềnh đá ngăn dòng
chảy của nước, ngăn dòng suy nghĩ của tôi, làm tinh thần tôi không yên.
Nhưng tôi cũng không sao làm tan biến nỗi ám ảnh đó được, cái cảm giác
miên man này thật sự là đau khổ. Mà tôi đang sợ hãi cái gì? Trước lúc
ngủ tôi mới nghĩ ra điều gì đã bám đuổi làm tôi bất an trong suốt thời
gian qua. Giá sách! Có liên quan đến cái giá sách.
Hai ngày sau đó,
đồ đạc của năm người họ vẫn cứ lần lượt mất tích. Mà tôi thì vẫn cứ
không mất gì. Tôi cũng đã mấy lần muốn mở cái ngăn tủ của giá sách ra
kiểm tra, không hiểu vì sao nhưng đúng là tôi không có cái gan đó.
Nhưng cái giá sách đó cuối cùng cũng bị mở ra. Ngày hôm đó, điện thoại
di động của Hoắc Hà bị mất. Chiếc Nokia 3230 vừa mới mua được hai
tháng, nếu mà mất thì thật là làm người ta quá xót xa. Hoắc Hà liên
tiếp bấm gọi vào số điện thoại của anh ta: không tắt máy. Cả đám bọn
tôi tìm loạn cả phòng, căng hết cả tai lên nghe ngóng. Vương Nhuệ nghe
thấy nhạc chuông “Trư Bát Giới cõng vợ” từ trên ban công vọng xuống. Cả
nhóm chạy lên ban công nghe cho rõ ràng. Âm thanh đó đúng là từ cái giá
sách vọng ra. Hoắc Hà dập máy phi lên ban công, vẻ phẫn nộ đạp mạnh vào
cửa tủ. Nào có nghĩ rằng cái tủ cũ mèm này lại chắc chắn đến vậy, nó
không có hề hấn vết tích gì. Thế mà suýt chút nữa đã làm cho chân của
Hoắc Hà gãy rồi. Trần Hồ Huy lên cậy cánh cửa ra, chiếc điện thoại vẫn
sáng nhấp nháy báo có cuộc gọi nhỡ. Dưới chiếc điện thoại nào là đồng
hồ, tất, nước hoa và tất cả. Đầy đủ những thứ mà mọi người mất trong
suốt thời gian vừa qua. Đúng là cái giá sách quỷ quái!
Tôi như quay cuồng
giơ tay bám vội vào tường. Đồ đạc đã tìm lại, mọi người từ đó cũng vui
lên nhiều. Cũng chẳng ai để ý đến tôi không hề vào tủ lấy đồ bị mất.
Tôi nhẹ cả người. Vấn đề tiếp theo là nghiên cứu làm sao mà đồ đạc của
chúng tôi chui vào trong cái tủ đó được. Lần này thì chính Khương
Phượng lại phủ nhận ý kiến lần trước của mình. “Cũng thật lạ
lùng, lẽ nào có con vật gì đó thích lấy những món đồ vặt vãnh này đem
đi giấu?”
Vương Nhuệ “Có lẽ
nào là chuột? Có lẽ trước đây ông già chủ nhà thích huấn luyện chuột
tha đồ?” Trần Hồ Huy “Nhưng
mà đồ đạc cũng để cả trong ngăn kéo nữa cơ mà, chuột thì làm sao mà tha
ra được?” Tranh luận cả ngày mà chưa tìm ra cách giải thích nào hợp lý
cả.
Hoắc Hà đột nhiên
vỗ vào đầu một cái “Tôi nhớ ra một câu chuyện nhưng không dám chắc là
có liên quan đến chuyện của chúng ta.” Hoắc Hà bắt đầu kể về hai nhà
thám hiểm Nam Cực bị bão tuyết bao vây trong căn nhà tránh bão, mỗi
ngày phải thay phiên nhau đứng bên ngoài phát tín hiệu cấp cứu. Nhưng
tuyết to gió lớn, nên cũng chẳng có ai đến cứu họ cả. Mà người phụ
trách phát tín hiệu cầu cứu lại bị sốt, càng ngày càng suy nhược. Buổi
sáng ngày hôm đó, một trong những nhà thám hiểm tỉnh dậy phát hiện ra
người bạn đồng hành của mình đã qua đời. Anh ta chỉ còn biết chôn bạn
mình dưới tuyết. Rạng sáng ngày hôm sau, nhà thám hiểm mở mắt thấy bạn
mình ngồi trên ghế, trong tư thế phát điện báo cứu viện. Nhà thám hiểm
rất kinh ngạc. Nhưng vui mừng vì bạn mình vẫn chưa chết. Thế nhưng khi
lại gần mới thấy đó chỉ là cái xác lạnh toát. Nhà thám hiểm thấy kinh
hoàng nhưng không hiểu vì sao anh ta lại mang cái xác đi chôn. Đến ngày
thứ ba, cái xác đó lại hiện ra vẫn với dáng vẻ cũ. Những ngày sau ngày
nào cũng vậy, mỗi khi thức dậy nhà thám hiểm đều thấy xác của bạn mình
từ dưới tuyết lạnh hiện về, ngồi trên ghế. Cũng không lâu sau nhà thám
hiểm đó như phát điên đã dùng súng tự bắn vào đầu mình. Vương Nhuệ nghe
xong câu chuyện còn nhếch mép cười.
Khương Phượng thấy
thế làm tò mò gặng hỏi. “Sao lại vậy, sao cái xác co1the63 tự chui ra
khỏi quan tài?”
Hoắc Hà im thin
thít nửa ngày rồi mới nói “Nói cho mà nghe, đó là do chính nhà thám
hiểm đó bị mộng du. Ban ngày thì chôn cái xác đó nhưng đêm đến bắt đầu
mộng du, ra đào cái xác đó lên. Đặt ngồi vào ghế. Do chính anh ta dọa
tâm thần anh ta đó chứ.” Khương Phượng há
hốc “Ồ, cậu định nói trong số chúng ta có người bị bị mộng du, đem đồ
giấu trong tủ?”
Hoắc Hà lắc đầu
“Do chỉ là một cách nghĩ mà thôi, chẳng ai có thể đảm bảo. Nhưng chúng
ta bây giờ đã biết đạo tặc là cái giá sách này thì từ sau cứ đến thẳng
đây mà lấy đồ là được rồi.” Trần Hồ Huy nói
“Cũng không thể như thế mãi được. Tôi nghĩ căn nhà này thực sự có điều
bí ẩn, chúng ta phải báo án?” Mọi người nghe thấy bào công an đều ngạc
nhiên.
Khương Phượng liếc
anh ta một cái “Báo án gì? Có việc cỏn con thế cũng báo án? Thế cậu
nghĩ cảnh sát nhàn nhã không có việc gì làm mà đi phá những vụ án như
thế này à? Đợi một thời gian nữa, chúng ta thu thập thêm thông tin xem
sao”. Về phòng mình, tôi lại mốt hồn mất vía đứng sững sờ nửa ngày mà
chẳng biết nên làm gì. Mộng du? Hay tôi chính là kẻ bị mộng du đấy? Tối
hôm đó, tôi lại mơ thấy chuyện về cái giá sách nó như mọc thêm bốn cái
chân đi đi lại lại trên ban công, rồi vào phòng của mọi người rất tự
nhiên lục lọi đồ đạc.