Wellcome
Liêu trai chí dị
Tập 2: Hổ gả con
Có
một Thiên Quan họ Ân, người Lịch Thành thuở nhỏ, nhà nghèo, thường tỏ
ra gan dạ. Trong ấp có khu nhà của một cố gia, rộng vài chục mẫu, lầu
viện liền nóc, thường thấy chuyện quái dị, vì thế mà bỏ hoang, không ai
ở.
Lâu
ngày tranh cỏ mọc um tùm, giữa ban ngày cũng không ai dám bén mảng đến.
Một
hôm, Ân đang cùng các bạn học trò uống rượu, có người nói đùa:
-
Ai dám ngủ trong nhà đó một đêm, chúng tôi sẽ góp tiền đãi bữa rượu.
Ân
ngồi nhổm ngay dậy, nói:
-
Khó gì việc ấy:
Rồi
cắp một chiếc chiếu mà đi. Chúng bạn tiễn Ân đến cổng, bảo đùa rằng:
-
Chúng tôi hẵng đợi ngoài này, nếu như có thấy điều gì thì kíp gọi to
lên.
Ân
cười đáp lại:
-
Nếu có ma hãy hồ thì sẽ tóm cổ đưa về làm bằng
Nói
rồi đi vào. Thấy lau sậy mọc khuất cả lối đi, các loài cỏ dại mọc rậm
như gai.
Hôm
đó, nhằm khoảng đầu tháng, trăng non mờ nhạt, nên cửa ngõ cũng phân
biệt được.
Ân
đưa tay lần vách mà đi mãi, mới đến khu lầu phía sau.
Trèo
lên sân thưởng nguyệt, thấy sáng sủa, sạch sẽ, một vành trăng sáng ngậm
trên đầu núi, ngồi một lúc lâu, không thấy có gì lạ, trong bụng cười
thầm cho là thiên hạ đồn hão.
Rồi
giải chiếu xuống đất, gối đầu lên hòn đá, nằm ngắm sao Ngưu Lang Chức
Nữ.
Canh
khuya, lơ mơ muốn ngủ, Ân chợt nghe dưới lầu có tiếng giầy lẹp kẹp đi
lên.
Ân
vờ ngủ, ghé mắt xem, thấy một nàng áo xanh xách chiếc đèn hoa sen, thốt
nhiên nhìn thấy Ân thì giật mình lùi bước, bảo với người đi sau rằng:
-
Có người lạ trên này.
Người
bên dưới hỏi:
-
Ai vậy?
-
Cô gái đáp rằng:
-
Không biết.
Giây
lát, một ông già bước lên, đến tận nơi nhìn kỹ, nói:
-
Ðây là quan thượng thư họ Ân. Ngài đã ngủ say, ta cứ làm việc mình. Ông
lớn là người không câu nệ, chắc không lấy làm lạ mà quở trách đâu.
Họ
bèn đưa nhau lên, vào cả trong lầu. Các cửa lầu mở hết. Một lát nữa, kẻ
đi người lại càng nhiều. Trên lầu, đèn sáng như ban ngày.
Ân
khẽ cựa mình, cất tiếng ho hắng.
Ông
già thấy ông đã tỉnh, bèn bước ra, quỳ xuống thưa rằng:
-
Kẻ hèn mọn này có đứa con gái sắp gả chồng, đêm nay cho cháu làm lễ vu
quy; không ngờ xúc phạm đến quan nhân, mong ngài lượng thứ.
Ân
ngồi dậy, đỡ ông lão lên nói:
-
Không biết hôm nay là ngày vui mừng của nhà ta, thật áy náy vì không có
gì để mừng tặng.
Ông
già đáp:
-
Ðược quan nhân hạ cố, trấn áp điềm hung hiểm, là may lắm rồi. Lại xin
được phiền ngài ngồi lại cùng vui, quý hóa biết chừng nào
Ân
cũng mừng, nhận lời.
Vào
trong lầu, nhìn xem, thấy bày biện đẹp đẽ, trang nhã.
Lúc
ấy, có người đàn bà bước ra vái chào, tuổi đã ngoại bốn mươi. Ông già
nói:
-
Ðây là tiện nội.
Ông
vái chào lại.
Bỗng
nghe tiếng sênh, tiếng nhạc cất lên inh tai, có người nhà chạy vội lên
thưa:
-
Ðến rồi!
Ông
lão chạy ra đón, Ân cũng đừng đợi.
Phút
chốc, một chiếc đàn lồng bằng sa mỏng, dẫn chú rễ vào.
Chù
rễ tuổi khoảng mười bảy mười tám, vẻ người sáng sủa, thanh tú.
Ông
già bảo hãy chào quan khách trước.
Chàng
trai đưa mắt nhìn ông.
Ông
giữ chân tiếp khách dùm chủ nhà, nên nhận lễ nửa khách nửa chủ. Thứ đến
là bố vợ và chàng rễ giao bái. Xong, bèn ngồi vào bàn tiệc.
Một
loáng, đám người phấn sáp kéo lên như mây. Rượu thịt bày la liệt. Chén
ngọc, bình vàng sáng nhoáng, chiếu rọi lên bàn ghế.
Rượu
được vài tuần, ông già bảo con hầu vào mời tiểu thư ra.
Con
hầu vâng lời đi vào, lúc lâu vẫn không thấy ra.
Ông
lão tự mình đứng lên, vén bức màn, giục ra.
Phút
chốc, một bọn hầu gái, trẻ có già có, cùng đỡ cô dâu ra.
Tiếng
ngọc đeo vang lên lanh canh, mùi lan thơm sực nức.
Ông
già truyền bảo nàng hãy trông lên mà chào lạy.
Lạy
xong cô dâu đứng dậy, ngồi bên cạnh bà mẹ.
Ân
đưa mắt liếc nhìn, thấy cô tóc phượng cài trâm thu, tai đeo ngọc minh
châu, dung nhan tuyệt đẹp.
Thế
rồi, rót rượu vào chén vàng, mỗi chén lớn chừng vài đấu.
Ân
nghĩ:
-Vật
này có thể đưa cho bạn bè làm chứng được, bèn giấu vào trong tay áo rồi
vờ say, tựa xuống ghế, gục đầu mà ngủ.
Mọi
người đều nói:
-
Ông lớn say rồi!
Không
bao lâu, nghe tiếng chú rễ có lời xin rước dâu.
Tiếng
nhạc, tiếng sênh lại nổi lên, mọi người nhộn nhịp xuống lầu ra đi.
Xong
xuôi, chủ nhân thu dọn bàn tiệc, thấy thiếu mất một cái chén, tìm khắp
không thấy.
Có
người bàn, vụng ngờ cho ông khách đang nằm ngủ.
Ông
già vội gạt đi không cho nói hết, chỉ sợ Ân nghe được.
Lúc
lâu nữa, trong ngoài im lặng cả, Ân mới trở dậy.
Tối
mò không có đèn đuốc gì, chỉ có mùi thơm của phấn sáp và hơi rượu, như
còn đầy cả bốn quanh tường.
Trông
ra, hừng đông đã rạng, bèn thong thả bước ra. Sờ vào trong tay áo, cái
chén vàng vẫn còn.
Ra
đến cổng thì bạn bè đã đợi sẵn, họ cứ ngờ Ân đang đêm lẻn ra, gần sáng
mới trở vào.
Ân
đưa chén cho xem, ai cũng kinh ngạc, dò hỏi.
Ân
bèn kể rõ đầu đuôi cho biết. Chúng đều nghĩ vật này thì anh học trò
nghèo chẳng thể nào có, mới tin là chuyện thực.
Về
sau, ông thi đỗ Tiến sĩ, nhậm chức ở Phù Khâu.
Có
nhà gia thế họ Chu thết tiệc ông, sai lấy bộ chén lớn, mà mãi vẫn không
thấy người hầu mang ra.
Có
đứa hầu nhỏ che miệng nói thầm với chủ nhân điều gì đấy, nét mặt chủ
nhân có vẻ tức giận.
Một
lát sau đem bộ chén vàng ra, rót mời khách uống.
Nhìn
kỹ kiểu chén cùng đường trạm trổ, không khác chút gì với thứ chén của
hồ dạo nào.
Ân
lấy làm lạ , Ân hỏi chén này chế tạo ở đâu. Chủ nhân đáp:
-
Bộ chén này cả thảy có tám chiếc, đời ông thân tôi làm quan Khanh tại
kinh, kén tìm thợ khéo chế ra, nên lấy làm vật gia bảo truyền thế, cất
kỹ từ lâu. Vì được đại nhân hạ cố mới lấy ở trong hòm ra, thì chỉ còn
bảy chiếc.
Ngờ
đâu người nhà lấy trộm, mà dấu niêm phong mười năm vẫn như cũ, thật
chẳng hiểu sao nữa.
Ân
cười bảo:
-
Chén vàng mọc cánh bay mất rồi, những vật báu truyền đời không nên để
cho mất. Tôi có một chiếc cũng gần giống, xin đem để tặng ngài.
Tiệc
xong, về dinh, ông lấy chén ra, cho người mang đến.
Chủ
nhân xem kỹ, rất kinh hãi, đích thân đến tạ ơn, và hỏi nguyên do chiếc
chén từ đâu mà có.
Ân
bèn kể lại đầu đuôi câu chuyện.
Mới
hay rằng vật ngoài nghìn dặm, hồ cũng có thể lấy được, duy chỉ không
dám giữ làm của mình.