Ngôi làng thứ tư Lòng gian trá Vào
một đêm mưa gió, một chiếc Toyota màu trắng đỗ trước cửa nhà Hồ Tử. Đào
Tử xuống xe, đội cả mưa chạy vào nhà. Suốt cả chiều hôm đó, Đào Tử đã
gọi điện cho bạn đồng nghiệp - Hồ Tử cả mấy trăm lần, nhưng cả trăm lần
đều chỉ nghe trả lời “số điện thoại này đang tạm khoá, xin quý khách
vui lòng gọi lại sau”. Đào thấy hối hận vì đã không ngăn cản kịp thời
người bạn nhỏ này.
Lòng hiếu kỳ là
một bộ phận cấu thành của đặc tính các phóng viên. Nhưng hiếu kỳ quá độ
đã mang lại vết thương chí mạng của Hồ Tử. Một vệt sáng xé
toang bầu trời đêm tiếp theo là tiếng nổ rung trời, tiếng sấm, ánh điện
chớp soi sáng cả hành lang cầu thang khu chung cư. Đào Tử thấy tim mình
giật thót, một dự cảm bất thường chụp xuống hồn cô. Trước khi đi làm,
Đào Tử gọi điện trước cho toà soạn, bên phòng biên tập bảo Hồ Tử đi
phỏng vấn rồi không thấy trở về nữa. Tiếng bước chân lê
dài trên cầu thang, Đào Tử đi một mạch lên đến tầng sáu, tầng có nhà
chung cư của Hồ Tử, gõ cửa gọi: “Cậu Tử ơi, cậu có nhà không? Tôi - Đào
Tử đồng nghiệp của cậu đây.”
Tiếng gọi và tiếng
gõ cửa chỉ được trả lời bằng sự im lặng của căn phòng trống. May thay,
bên cửa đối diện có bà lão gầy nhỏ đi ra, đôi mắt mờ đục dán vào Đào Tử
nói nhi nhí trong miệng: “Cô gái, cô tìm cậu Hồ Tử à? Cậu ta thường để
chìa khoá dưới nệm lau chân trước cửa phòng, cô tìm thử xem, tiện thể
xem cậu ta có ốm đau gì đang nằm trong đó không” Bà lão cứ nhìn
chằm chằm khiến Đào không được tự nhiên, cô trách thầm, “cậu Hồ Tử này,
sao bất cẩn đến thế, chìa khoá nhà để chỗ mà hàng xóm ai cũng
biết!”.
Đúng như lời bà
lão đoán, quả nhiên Đào tìm ra chiếc chìa khoá ngay dưới tấm nệm lau
chân trước cửa phòng. Đào cảm ơn bà lão rồi mở cửa phòng ra. Hồ Tử là
một người tự lập, một mình thuê phòng trọ, Đào còn nhớ, Hồ Tử là người
vùng khác đến đây học, sau khi tốt nghiệp, xin được vào toà soạn làm
báo rồi thuê phòng ở lại đây luôn. Trước đây, Đào từng đến nhà Hồ Tử
cùng với mấy người trong ban biên tập, nhưng đối diện với căn nhà này
lại lần nữa Đào vẫn thấy không quen, vì trong phòng quá tối, Đào lần ra
công tắt rồi bật đèn lên. Ánh sáng đột ngột loé lên giữa cái tối từ nãy
giờ khiến thị giác Đào chưa thích ứng được với ánh sáng. Đào nhìn quanh
căn phòng một lượt, phòng khách trống trãi không người, chỉ có một
phòng ngủ cửa vẫn không đóng nhưng cứ để hé cũng không phải mở. Đào đi
đến định mở cửa ra. Khi cô vừa đưa tay ra mở, cô thấy tay mình run
mạnh, cảnh tượng hãi hùng cô vừa thấy lúc trưa trong bồn tắm lại hiện
ra ngay trước mặt cô.
Hít sâu mấy hơi,
cô tự lấy dũng khí rồi đẩy cửa ra.
Khi thấy Hồ Tử
đang ngồi trước bàn làm việc hí huáy viết bài thì cô như nhẹ cả người.
Nhưng một lúc sau, cô thấy có điều gì là lạ, vì khi biết Đào đến Hồ Tử
vẫn không có chút biểu hiện gì. Cậu ta ngồi trước bàn làm việc như pho
tượng, không cử động nào. - Này cậu Hồ Tử,
cậu không nghe thấy gì à? Hồ Tử vẫn ngồi yên
bất động.
Tay cầm cây bút,
ánh đèn rọi xuống nửa khuôn mặt khiến người nhìn thấy cậu ta có vẻ ghê
sợ. Ngoài cửa, Đào Tử tiến dần vào phòng đến chỗ Hồ Tử, đưa cánh tay
run run lên mũi Hồ Tử. “Chẳng lẽ cậu ta chết rồi?” Đào tự hỏi. Không
nhịn được, Đào muốn chứng minh xem sao cái dự cảm của mình… Nhưng khi
thấy vẫn có chút hơi thở yếu ớt, Đào Tử bật khóc. “Tốt quá, thế là cậu
không sao cả, cậu vẫn còn sống” Đào Tử nói.
Nói xong, nhanh
như con sóc, Đào gọi điện 120 cấp cứu… Mấy phút ngay sau đó, tiếng còi
xe cứu thương vang ầm trước căn hộ chung cư, mấy nhân viên cứu thương
mang băng lên khiêng cái thân đang đờ ra của cậu Tử, trong lúc đó, Đào
vô tình xem lướt mấy dòng trong cuốn sổ trên bàn, đúng hơn là Hồ Tử đã
mất hết ý thức trong tư thế viết bài.
Không còn thời
gian nghĩ nhiều nữa, Đào cầm cuốn sổ ghi chép lên, rồi chạy thẳng đến
bệnh viện.
Đứng ngoài phòng
cấp cứu, Đào lật cuốn sổ công tác của Hồ Tử ra đọc, nét chữ cứng cỏi có
lực, đúng là chữ của Hồ Tử. Đào Tử ngồi trên
ghế đợi trong hành lang bệnh viện, chăm chú đọc cuốn sổ công tác, đó là
mấy dòng chữ của Hồ Tử viết cho Đào Tử khi còn tĩnh táo. “Sư tỷ, không biết
khi chị lật cuốn sổ này ra thì em đã như thế nào rồi. Thật xin lỗi chị
vì đã không nghe lời khuyên của chị, vẫn chơi “bảy ngôi làng ma”. Điều
đáng ân hận là em đã không thể mang hình vẽ trong trò chơi ra cho chị
xem chỉ viết lại những cảnh tượng đó qua ký ức mà thôi. Bất luận thế
nào em vẫn muốn chị xem hết những gì mà em viết sau đây.”
Mắt Đào bỗng giật
giật, cô buồn cho Hồ Tử vì cậu ta đã không tự lượng sức mình, rõ ràng
đã khuyên cậu ta không nên chơi trò chơi đó, nhưng cuối cùng cũng bị
cuốn hút vào vòng xoáy đó. Dù thế nào đi nữa thì cô vẫn phải đọc cho
xong cuốn sổ này, nội dung trong cuốn sổ ghi:
Tôi không phải là
người tốt, có thể nhìn thấy điều đó qua khuôn mặt của tôi. Tôi có một
khuôn mặt mà diện tích của phần có râu chiếm nhiều hơn phần da mặt nên
mọi người gọi tôi là “anh râu quai nón”. Tôi đã từng ăn cắp
xe hon da, rồi dùng chính chiếc xe đó làm phương tiện cướp giật, có
tiền rồi đi kiếm gái chơi, chơi chán xong lại tiện tay dắt dê, lấy luôn
đồ trang sức và túi xách của các cô gái đó. Trong túi xách đó có một
điện thoại di động và một cuốn nhật ký. Chủ nhân của cuốn nhật ký đó
cho dù tôi có đi cùng trời cuối đất cũng không tìm ra, tôi chỉ biết đó
là một trong những quan viên cao cấp nhất của tỉnh, hắn là một gã cáo
già, một tay đã che được cả bầu trời. Trong cuốn nhật ký đó đúng ra
không phải là cuốn nhật ký mà là ghi chép những khoản tiền thu được bao
nhiêu, dùng vào việc gì, biếu cấp trên bao nhiêu, ai nợ và đã nợ ai…
đại khái cuốn nhật ký này cô gái kia đã đánh cắp của người chủ nhân của
nó trong một lần hắn mua dâm. Tôi là người xấu, tôi biết cuốn sổ này mà
vào tay tôi thì mọi chuyện sẽ sục sôi lên, tôi sẽ bị nhiều xui xẻo. Mấy
hôm sau đó, cô gái kia đột nhiên chết, người âm thầm theo dõi chuyện
này là tôi cũng không còn cách lựa chọn nào khác ngoài việc bỏ trốn.
Cũng may tôi có người “đồng đãng” là một tên sành sỏi trong khâu vượt
biên trái phép, nhờ anh đấy thu xếp cho tôi sang Hàn Quốc. Tên trùm sỏ
sau lưng người đồng đảng tôi tên là Khâu Lão Tứ, năm nay đã ngoài năm
mươi, là một người gầy ốm, khuôn mặt trông hung ác, ánh mắt sắt lẽm ghê
người, lại thêm cái vết sẹo sâu hoắm to đùng sau đuôi mắt, khiến người
ta không ai dám đến gần. Cùng tôi vượt biên còn có năm tên khác, bốn
trai một gái, bọn họ đều dấu tên, không cho ai biết, chỉ biết biệt hiệu
của bọn chúng thôi: Một đứa tên là Thư Sinh, hắn ta gầy gò trông rất
thư sinh, mắt đeo kính cận; một thằng tên là Dầu Mỡ, hắn ta là một đầu
bếp; hai tên còn lại là hai anh em, đứa nào cũng cao to rắn chắc, Khâu
Lão Tứ thường đùa với bọn chúng là có phải đi Hàn Quốc để làm đĩ đực?!
Ngoài ra còn có một người con gái duy nhất tên là Phong Vận Đan, nghe
cái biệt hiệu của cô ta cũng đoán biết được nhan sắc. Cô ta quả sắc
nước hương trời, bộ ngực nở nang săn chắc là nơi Khâu Lão Tứ “bôi dầu”
nhiều nhất.
Qua mấy hôm lên xe
xuống xe đổi tuyến, chúng tôi đến một ngôi làng nhỏ trong núi, đây là
một ngôi làng hẻo lánh ven biển của tỉnh Sơn Đông, là nơi tập kết vượt
biên. Cả ngôi làng chỉ có năm sáu nhà lụp xụp sau làn cây xanh um, mỗi
nhà cách nhau rất xa, kiểu dáng nhà ở cũng sơ sài cổ quái không ra thể
thống nào cả, hình như chỉ cần đẩy nhẹ tay cũng đủ làm chúng sập xuống.
Lạ nhất là các ngôi nhà đó, dù cách nhau khá xa nhưng đều xoay mặt về
một cái miễu, ngôi miễu này rộng khoảng hơn năm nghìn mét vuông. Thật
tôi không thể nào hiểu được, trong ngôi làng nhỏ tí tẹo bên rừng cao
bên biển sâu này sao lại có ngôi miễu lớn đến thế. Tôi chú ý đến ngôi
miễu này, nhìn vào nơi thờ phụng tí nữa tôi té ngã bởi cách thờ phụng
những thứ tà môn tả đạo. Mấy cái ống khói của mấy nhà trong thôn vẫn
toả ra, chúng tôi ngửi thấy mùi thịt nướng, cái cảm giác đói không mời
mà đến, cậu Thư Sinh không nhịn được nói: “Tốt quá bọn ta có thể mua ít
đồ gì đó ở đây để ăn rồi, cứ chén một trận no nê rồi lên thuyền cũng
chưa muộn.” Khâu Lão Tứ nghiêm
giọng nói: “Không được ở lại đây, ăn nhiều rồi lên tàu cũng nôn ra cả
thôi”
Đi xuyên hết ngôi
làng, hễ gặp dân làng ai cũng mỉm miệng cười thay lời chào rồi cúi đầu
tiếp tục công việc của mình. Cái kiểu chào đó khiến tôi thấy lạ. Phong
Vận Đan đi theo sau Lão Tứ, vừa đi vừa đánh mông tành tạch nói: “lạ
thật, trong làng này không nghe tiếng chó sủa” Thằng Béo mặt mày
hớn hở nói: “Có phải người đẹp muốn ăn thịt chó không? Đợi đến khi qua
được Hàn Quốc tôi sẽ cho cô ăn món chó nướng cả con…”
Khâu Lão Tứ bỗng
quay đầu lại, hạ giọng trầm nói rất oai: “Câm mồm”. Trong suốt chặng
đường, Lão Tứ luôn luôn khách khí lễ độ, chưa hề có biểu hiện như bây
giờ, Thằng Béo lập tức ngoan ngoãn nghe theo, không nói gì nữa. Tôi
luôn cảm thấy Lão Tứ có cái vẻ bên ngoài ghê gớm nhưng trong lòng mềm
mỏng, hình như ông ta đang lo sợ điều gì đó. Người đi cứ hết
đợt này đến đợt khác, họ cứ tiến lên… bên tai chỉ nghe tiếng bước chân
lịch bịch, thỉnh thoảng hình như có điều gì đó làm lũ quạ trên cây dáo
dác bay kêu quạc quạc. Cái cảm giác quái dị trong tôi ngày càng mãnh
liệt, tại sao ngôi làng này lại yên tĩnh đến thế? Cái yên tĩnh khiến
người ta có cái cảm giác như trong làng này không có một loài động vật
nào sống kể cả con người. Trong ngôi làng
này không những chúng tôi không thấy có chó, thậm chí không thấy cả gia
cầm gia súc như gà, lợn, dê, ngỗng… Ngoại trừ gặp mấy người dân “câm
như thóc” của làng này ra, chúng tôi chưa thấy một sinh vật nào khác
tồn tại. Ngôi làng chết, bất chợt tôi nghĩ đến cái mùi thịt nướng phảng
phất trong làng ngày nào cũng có nhưng họ lấy đâu ra thịt để nướng, cả
làng không kiếm ra bất kỳ một sinh vật nào ngoại trừ con người. Nghĩ
đến đây, tôi không dám nghĩ tiếp nữa. Nhìn về gã Thư Sinh và Thằng Lớn,
Thằng Nhỏ cũng thấy mặt chúng nó thừ ra vì sự quái dị đó. Băng qua ngôi làng
là vùng núi thấp, từ đỉnh đến chân núi không có lấy một ngọn cỏ mà toàn
là đá tảng với hình thù quái dị, mỗi tảng mỗi vẻ kỳ bí, nhìn chúng vào
những đêm trăng hoặc vào các buổi sáng có sương mù thì giống hệt như
những con quái thú hung tợn. Cả ngọn núi chỉ có một khóm tre trên gần
đỉnh, nhìn từ xa, khóm trúc như những phần mộ. Khâu Lão Tứ nói: “Qua
vùng đó là một cảng tránh bão cho tàu thuyền, chúng ta đợi thuyền ở
đó” Khi chúng tôi lên
đến đỉnh, ai cũng mệt nhoài hổn hển, lên tới đây chúng tôi mới biết đó
không phải là một khóm nhỏ mà là một vùng tre xanh khá lớn. Vì ngọn núi
này có hình móng ngựa, vòng cong hướng về biển, nên nhìn từ phía ngôi
làng, hệt như một cái bánh Man Đầu. Hai bên rìa núi
kéo dài đến tận biển, nên vùng biển ở đây như bị cô lập. Những kẻ vượt
biên thường xem đây là bến đầu mối để xuất hành, quả là một nơi lý
tưởng để thực hiện các cuộc phi vụ. Bên mặt này của núi là biển cả,
không có chỗ nào tiện nghỉ chân nên chúng tôi ở lại trên đỉnh để chờ
tầu đến rồi xuống luôn. Khâu Lão Tứ mang ống nhòm ra nhòm rồi chống tay
lên hông xem đồng hồ. Cứ lặp đi lặp lại hành động đó mấy lần, Lão Tứ
bỗng thấy lo lắng. Thằng Béo lau mồ hôi bảo: “Sao thế nhỉ, thuyền đến
giờ này mà vẫn chưa thấy đến? Lão Tứ à, chúng tôi đã nộp đủ tiền rồi cả
đấy, đừng lừa chúng tôi chứ?” Lão Tứ không thèm
để ý đến lời hắn nói, lấy di động ra gọi, lão ta nói giọng Quảng Đông,
mấy người chúng tôi không biết tiếng Quảng Đông nên nghe cũng như vịt
nghe sấm, chẳng hiểu gì cả. Lão Tứ nói chuyện qua điện thoại xong, buồn
bực bảo với chúng tôi: “Xem ra chúng ta phải ở đây đợi đến hai ngày
nữa” Mọi người cả kinh,
ai cũng ngồi dậy hỏi cho ra nhẽ, hai anh em Thằng Lớn, Thằng Nhỏ vốn
trầm mặc cũng đứng lên phát biểu ý kiến tỏ ra bất mãn. Phong Vận Đan
nói với giọng nũng nịu: “Anh Tứ à, có việc gì thế?” Khâu Lão Tứ uể oải
đáp: “Gió hơi mạnh, biển động, nếu đi không an toàn” Mọi người rã rượi
nằm cả xuống đất, giờ thì cái im lặng đã thay thế cho cái ồn ào lúc
nãy. Trong giọng trả lời của Lão Tứ có chút run run, lão ta là người
đứng mũi chịu sào nhưng không sánh kịp tên tiểu tốt như tôi, gió to
sóng cả gì cũng trải qua cả rồi, chẳng có gì đáng sợ, trực giác mách
bảo tôi, không phải lão ta run vì gió lớn mà hẳn là vì lý do khác nào
đó, nếu thật thế thì rốt cục lão ta đang sợ gì? Ngoái đầu lại nhìn
ngôi làng dưới chân núi, từ trên cao nhìn xuống, ngôi làng như một cái
miệng hung thần khổng lồ hút lấy sinh khí xunh quanh. Ngôi làng này rốt
cục có gì bí mật? Lão Tứ là người hay lui tới nơi này hẳn ông ta biết
được bí mật ngôi làng này, có lẽ chính vì lão ta biết được bí mật đó
nên mới run sợ như thế!
Chắc chắn là thế,
vậy đó là bí mật gì?
Gió biển thổi vù
vù vào khóm trúc, mỗi cơn gió thổi qua một âm thanh xáo xào lại vang
lên. Mặt trăng đã treo cao, không khí vùng biển càng về đêm càng lạnh
mọi người vội vàng lấy áo ra mặc thêm cho đỡ lạnh. Đống lửa đằng xa kia
vẫn chưa tắt, thỉnh thoảng tiếng đốt tre cháy nổ vọng lại, bên đống lửa
vẫn còn chiếc bình nước nóng và mấy tấm phên bằng tre như làm tăng thêm
cái vẻ tiêu điều của không khí đêm thu. Mấy người cứ trăn qua trở lại
không chợp mắt được, tên Thằng Béo cứ lẩm bẩm mãi trong mồm: “được đấy,
không chịu cho người ta xuống làng mua tí gì ăn, cứ ăn mãi mì sợi thì
có chống được đói không?” Tên Thư Sinh tiếp
lời: “Đúng đó, thật không hiểu tại sao không xuống làng kia xin tá túc
qua đêm mà cứ ở lại đây cho lạnh người ra, trong làng có miễu lớn thế
chẳng lẽ không chứa tạm được mấy người chúng ta sao” - Đi thì các ngươi
đi đi, lão đây tình nguyện trả lại tiền cho các ngươi, hợp đồng chúng
ta thế là chấm dứt, ai đi đường nấy. Khâu Lão Tứ đứng phắt dậy bực tức
quát lớn. - Mọi người xin
bớt lời đi nào, Anh Tứ à, sao lại giận dỗi ghê thế, tại sao không thể
xuống làng đó, anh cứ nói thẳng với bọn em đi! Phong Vận Đan đứng dậy
điều giải. - Các ngươi thật
sự muốn nghe? Khuôn mặt Lão Tứ dưới ánh trăng như trắng xanh đi vì sợ,
cái giọng nói như được thoát lên từ sự sợ hãi sâu thẳm trong linh hồn
đã lâu. Bốn bề không khí như lạnh thêm, mọi người kéo áo chặt vào người
cho đỡ lạnh. - Được, thế thì
lão đây sẽ kể cho các ngươi nghe, ngôi miễu mà cậu Thư Sinh vừa nhắc
đến đó các ngươi có biết tại sao trong ngôi làng bé lèo tèo
vài nhà thế mà có ngôi miễu lớn thế không? Khâu Lão Tứ run rẫy châm
thuốc lên. Không nhắc đến thì thôi, nhắc đến ghê cả người bảo. - Đúng vậy, sao
ngôi miễu lớn thế mà chỉ có mấy hộ rải rác thôi? - Thật ra ở đây
không có ngôi làng nào cả, trước đây là thị trấn nhỏ của một gia tộc
buôn bán với người Nhật, còn ở đây là nghĩa trang của gia tộc đấy, còn
ngôi miễu kia là là ngôi đền thờ chung trong nghĩa trang của gia tộc
đó, họ còn thuê người đến giữ miễu và sống ở đó. Không biết họ đã đắc
tội gì với người Nhật mà bị họ phóng hoả thiêu rụi hết cả thị trấn, còn
nghĩa trang này do ở khá xa nên họ không biết đến nhờ thế mà tránh được
kiếp nạn đẫm máu này. Sau khi chôn cất cho toàn bộ người trong gia tộc,
mấy người giữ miễu đã quyết định định cư ở đây luôn, thế là dần dần
thành ngôi làng này. Lão Tứ kể chuyện xong, thì thở hổn hển, chẳng biết
lão thở vì mệt hay vì sợ. Bỗng nhiên từ đâu
xa vọng lại mấy câu hát đồng dao của trẻ con: “Đứa trẻ và người mẹ, mẹ
chạy đi để một mình con lại, sao trẻ nhỏ lại bị chết sớm quá thế?”
tiếng hát ngày càng rõ càng gần, cuối cùng nhỏ dần rồi mất hút, không
còn nghe thấy gì nữa khiến người ta lạnh gáy. - Đó là… ai vậy?
tên Thằng Béo mặt biến sắc hỏi. Vừa nghe chuyện quái dị ở ngôi làng này
lại nghe thấy tiếng người hát đồng dao vọng lại khiến ai nấy sợ sởn gai
ốc, ngay cả Hiệu anh và Hiệu em vốn trầm mặc ít nói, gan dạ cũng phải
run lên, đứng phắt dậy nhìn quanh để xem tiếng hát đó từ đâu vọng
lại. - Là một gã điên
trong làng hát. Khâu Lão Tứ dẫm lên tàn thuốc vừa ném xuống nghiến răng
nói: “Chúng ta cứ ngủ tạm ở đây vậy” Hiệu anh, Hiệu em
cười nhạt, nghĩ rằng không đến nỗi phải sợ như thế. Hai tên đó cho
rằng, Lão Tứ nói khoác, bất quá chỉ là tên điên có gì đáng sợ. Nhưng
hai tên này không chú ý đến thần tình của Khâu Lão Tứ, khi kể về chuyện
này, Lão Tứ ngập ngừng, run rẫy, chắc là ông ta biết nhiều chuyện khủng
khiếp hơn nhưng không dám kể ra vì sợ làm mọi người kinh sợ.
Tối hôm đó, tôi
chỉ nằm mơ màng không ngủ say như mọi đêm, nên chỉ cần có tiếng động
nhỏ tôi liền tỉnh dậy. Tuy là tên cường đạo nhưng gan dạ cũng chẳng hơn
người là bao, nhất là khi đối diện với những chuyện mà mình không hiểu
rõ, chính vì tính cách đó của tôi mà tôi mới tìm cách “đào thoát”.
Nhưng tối hôm đó tôi đã không phát hiện ra là hai anh em Hiệu anh Hiệu
em đã ra đi. Đến sáng, mọi người mới phát hiện hai anh em họ không còn,
hành lý vẫn để lại. Khâu Lão Tứ lẩm bẩm: “Nhất định là chúng đã không
tin lời tôi, liều lĩnh xuống núi rồi, nhất định là chúng đã xuống núi
rồi”.
“Xuống núi”, hai
chữ này như quấn lấy tâm trí tôi, trong đêm khuya thanh vắng, sương mù
cuốn theo gió rét thổi đến, tôi đoán hai anh em họ lành ít dữ nhiều.
Tuy tôi không biết có chuyện quái dị gì dưới ngôi làng dưới núi kia
nhưng chỉ cần nhìn bộ dạng hồn lìa khỏi xác đứng ngẩn người ra của Khâu
Lão Tứ thì thằng ngốc cũng đoán ra được, đêm hôm qua chúng tôi không
thấy lão nói chuyện với chúng tôi. Tôi hơi lo, hỏi
lão Tứ: - Ông lão! Hai anh
em họ liệu có xảy ra chuyện gì không? - Điều này không
thể nói trước được! Lão Tứ trả lời mà mồ hôi nhễ nhại cả trán. Thằng
Béo nói: - Hay là chúng ta
xuống đó tìm thử xem tiện thể mua chút gì ăn luôn. Khâu Lão Tứ chẳng
nói năng gì, cứ lẩm bẩm câu niệm Phật và cứ lần tràng hạt trong tay,
thời gian lúc này như dừng lại. - Mọi người hãy
nói gì đi chứ! Tên Thư Sinh gầy gò không chịu được cái không khí im
lặng căng thẳng đó. Khâu Lão Tứ không ngờ tên Thư Sinh gầy tong teo này
lại giận dỗi đến thế, cười nhạt bảo: - Lão biết các
ngươi muốn hỏi tại sao Lão lại không cho phép các ngươi xuống làng,
không phải là lão không muốn nói mà là nói ra chẳng mang lại điều gì
hay ho cho các ngươi cả, dù thế nào đi nữa thì chúng ta cũng phải túc
lại đây thêm vài hôm nữa. Thằng Béo vỗ vỗ bụng nói: - Không tìm hai
anh em Hiệu anh Hiệu em cũng được nhưng phải kiếm chút gì ăn chứ? Không
thể ăn mãi món mì ăn liền này qua ngày được, hơn nữa tôi cũng chỉ mang
được mấy gói thôi. - Ý kiến mọi người
thế nào? Lão Tứ hỏi mọi
người. Chúng tôi đều nhìn
Lão Tứ gật đầu, Khâu Lão Tứ cúi đầu trầm ngâm lát rồi nói: - Thôi được, là ý
kiến chung của mọi người thế thì lão đây không giấu làm gì nữa. Đây là
một ngôi làng cực kỳ nguy hiểm, trong băng đảng xã hội đen của lão đây
có kể nhau nghe câu chuyện tanh máu người, đầy khủng bố điều đặc biệt
là những câu chuyện đó đều xuất phát từ ngôi làng này. Bí mật sắp được
Lão Tứ kể, nó như là số mệnh tương lai chưa thể dự đoán trước của mấy
người chúng tôi, chúng tôi vừa hiếu kỳ nghe vừa cảm thấy sợ run cả
người, hình như trong mỗi lỗ chân lông đều có luồng gió lạnh buốt thổi
ra. - Ban ngày, ngôi
làng này trông có vẻ bình thường như bao ngôi làng khác, nhưng mỗi khi
đêm về, trong làng yên vắng này thường có xuất hiện những linh hồn u
uất chuyên móc tim người sống, trước đây có mấy người cũng vượt biên
trú ngụ lại trong làng, trước khi ngủ vẫn bình thường, ngủ rất ngon
lành nhưng đêm thứ hai thì xác của người đó nằm bừa phứa trong ngôi
miễu đó, trước ngực có vết rách dài ngoằn to tướng, các bộ phận trong
lòng ngực bị lấy hết chỉ còn bộ xương trống rỗng, người chết hai mắt mở
to… chỉ cần có người lạ trọ lại trong làng thì đêm đến không còn một ai
có thể sống sót. Người trong làng thấy người chết như thế đã quá nhiều
nên không lấy gì làm lạ nữa. Thi thể của những người chết được tên điên
trong làng - tên điên mà tối hôm qua hát đó - mang đi thả xuống giếng
trong vườn ngôi miễu đó, xưa nay không biết dưới giếng đó đã chứa bao
nhiêu bộ xương người rồi. Thần kinh của
chúng tôi như căng đứt ra bởi những lời kể của Lão Tứ, tim trong lồng
ngực như đóng băng lại… Phong Vận Đan run cầm cập hỏi “sau đó thế
nào?” Một âm thanh bỗng
vang lên sau lưng khiến tay chân tôi rã rời, máu như đông lại, từng sợi
tóc dựng thẳng lên. Khâu Lão Tứ, Phong Vận Đan, và tên Thư Sinh trợn
mắt há mồm nhìn theo sau lưng tôi, mũi Thằng Béo hích hích, thằng béo
này hễ cứ ngửi thấy mùi thơm thì quên hết tất cả, đúng rồi, mùi thơm,
mùi thơm của thịt…. Tôi quay đầu lại
nhìn Hiệu anh và Hiệu em. - Đến ăn nhanh
lên, hai anh em chúng tôi mang thức ăn sáng về cho mọi người đây này,
là món tim lợn dầm muối đấy, ngon tuyệt. Chúng tôi đứng im
như ông phỗng, Thư Sinh đưa tay thọc thọc vào Hiệu em hỏi: “Các cậu
không sao chứ?” - Không sao là
sao, hai anh em chúng tôi dậy hơi sớm, đói quá thế là xuống làng mua
thức ăn, tôi mua thức ăn ở nhà ông mổ lợn đây, ngon tuyệt! Nghe nói
thịt trong làng này nổi tiếng lắm, mọi người nếm thử đi. Hiệu anh cười
vui vẻ, hắn chẳng bao giờ cười nhưng hôm nay hắn cười… - Ngon quá, mẹ
kiếp, chó chết, nước bọt tớ đầy mồm cả rồi này. Thằng Béo tiến lên, đón
lấy quả tim lợn đựng trong lá chuối, mở ra, vội vã nhét vào mồm hai lát
nhai ngỏn ngoẻn. Lúc này, không còn
ai tin lời Lão Tứ nữa, hai anh em họ đã trở về là bằng cứ xác đáng
nhất, cái gì là moi tim, cái gì là linh hồn u uất? Chẳng qua chỉ là câu
chuyện ma kể cho đỡ nhàm chán…. Lão Tứ đang đối
diện với sự thực trước mắt cũng không biết nói gì thêm, chỉ thừ mặt ra
lần chuỗi hạt trong tay. “Này cậu Hồ Tử”
Hiệu anh vỗ vỗ vai tôi, cậu ta tỏ ý muốn mời tôi ăn cùng, tôi lắc lắc
đầu: “Các cậu cứ ăn đi, tôi không đói”. Thực ra không phải
tôi không đói mà là tôi tin lời Lão Tứ, tôi hiểu tính cách của những
người thân ở giang hồ, ăn cơm hắc đạo như Lão Tứ, vì thực ra, dù ít dù
nhiều gì thì tôi cũng là người bên bờ vực của cuộc sống giang hồ, Lão
Tứ tuy mắt mũi hung ác nhưng ít ra lão cũng là người có nghĩa khí,
những loại người này có thể làm những chuyện mua bán thân mình thân
người nhưng ít khi nói dối. Nếu câu chuyện mà
Lão Tứ kể là thực thì làm sao tôi có thể ăn “tim lợn” đó được! Trong
ngôi làng từ đầu đến cuối thôn chẳng tìm ra lấy được một con súc vật,
không chừng những trái tim kia… ý nghĩ này thật hoang đường đáng sợ,
hình như Lão Tứ hiểu hết những ý nghĩ trong đầu tôi bây giờ, nên nhìn
tôi cười nhạt… Nụ cười này của
Lão chứa đầy thần bí quái dị. - Tối qua đáng ra
chúng ta nên đến đây thì tốt hơn. Ở đây chẳng khác nào ngôi miễu, không
ai quản, không ai hỏi đến làm gì, chúng ta việc gì phải ngủ
hoang? - Hôm nay chúng ta
ở lại đây đi, chúng ta ra ngoài dân làng thử chào hỏi tiếp cận họ thử
xem, dù sao thì đó cũng là linh đường của tổ tiên họ, chỉ cần chúng ta
không kinh động đến họ là được. - Tiện thể mua ít
thức ăn đợi thuyền đến. - Được, để tôi đi
mua ít tim lợn về. Mùi tim lợn của nhà ông mổ trong làng này cũng khá
tươi ngon đấy chứ! Hiệu anh ra khỏi miễu. - Xem thử có rượu
không, nếu mua được rượu thì tốt biết mấy. - Biết rồi, không
thiếu phần cậu đâu. Mọi người đều đi
đi lại lại trong miễu, vừa đi vừa nói chuyện, họ hoàn toàn không để ý
gì đến lời nói lúc nãy của lão Tứ. Dưới sự cố gắng
của mọi người, tôi và Lão Tứ đành phải xuống núi cùng họ đến ngôi miễu
đó. Tôi nguyện thầm, mong rằng tất cả mọi người đều bình yên như anh em
nhà tên Hiệu là được, không ai phải xảy ra chuyện gì cả, bình yên sống
qua đây vài hôm. Nền ngôi miễu được
lót bằng đá, tường nhà chia làm hai phần, phần dưới được xây bằng đá
cao đến khoảng ngang eo người lớn, phần trên là những viên đá nung từ
thời xưa, rất lớn, tường bao quanh đền rất cao nhưng cao nhất là cây đa
cổ thụ trong miễu. Cành lá um tùm xanh mướt che rợp cả vùng như mây
phủ, ban ngày nó che cả một khoảng đất lớn, chiều đến và đêm về thì
dưới tàn cây đen ngòm như địa ngục. Trong đêm tối, chúng tôi nhìn thấy
thấp thoáng cái gì như miệng giếng mà Lão Tứ đã kể.
Thực ra, cái giếng
đó không đáng sợ như lời ông Tứ kể, chỉ là một cái giếng cổ kính, miệng
giếng được làm bằng đá hoa cương, trên miệng rêu xanh bám đầy, đây vốn
là cái giếng đầy sự thần bí ai ai cũng phải sợ, bên trên có một tấm
chắn miệng giếng bằng nhôm trắng xoá, miệng giếng luôn đóng chặt bởi
tấm chắn và được khoá cẩn thận bởi một ổ khoá cực lớn, trông nó chẳng
giống cái gì cả.
Bên miệng giếng có
tấm bảng bằng gỗ đã mục nát nhưng dòng chữ trên tấm bảng vẫn còn khá rõ
dòng chữ đen: “Nguy hiểm, không được đến gần”. Xem ra, sân đền này từng
là nơi vui chơi của trẻ con, chiếc miệng giếng này có lẽ đậy lại vì sự
an toàn của con người, nhất là bọn trẻ. Ánh mặt trời chiếu xuống tấm
chắn miệng giếng, nó phản chiếu lại như gương. Cái bóng râm mát hữu
tình của ban ngày nơi đây khiến không ai có thể tưởng tượng được cái vẻ
khủng bố của nó lúc đêm về. Tất cả những gì là chết chó thần bí đều
tiêu tan dưới ánh mặt trời ban ngày. Để chứng tỏ lòng gan dạ can đảm
của mình thằng Béo nhảy phắt lên ngồi trên miệng giếng, nhíu mắt dương
mày trêu Phong Vận Đan. Gã Thư Sinh đến trước chính điện ngôi miễu,
ngước trông kiến trúc cổ xưa của ngôi chính điện.
Khâu Lão Tứ hét
lên: “Đừng vào trong đó, đợi thằng Hiệu anh hỏi dân làng xong hẵng
hay”. Gã thư Sinh dừng tay không đẩy cửa nữa nhưng quay mặt lại nhìn
lão Tứ với điệu bộ hoài nghi không tin… Lấy túi hành lý trên vai xuống,
hắn lấy bộ bài ra. Thằng Béo cười khoan khoái la lớn: “Cừ thật, Thư
Sinh, cậu thật là khéo hiểu lòng người quá đấy!” - Dù sao thì mọi
người ai cũng nhàn rỗi không biết làm gì mà, thôi chúng ta chơi tú
trước đi, nào có ai tham gia nữa không? - Tôi không biết
chơi. Phong Vận Đan đáp. Lão Tứ vẻ mặt đầy
tâm sự, ngẩng đầu nhìn lên trời mà thừ hết cả người ra, hình như không
nghe thấy gì lời nói vừa rồi của mọi người. - Cho tôi tham gia
với. Thằng Hiệu em đưa tay lên xin gia nhập. - Còn thiếu một
người nữa. Thư Sinh nhìn về phía tôi, nhưng không dám mời tôi, chắc là
vì mặt mày tôi hơi hung tợn, thoạt nhìn cái bộ râu quai nón và khuôn
mặt xương xóc của tôi ai cũng nghĩ là tên bị trời đánh hụt. Thằng Béo nhìn tôi
tươi cười bảo: - Anh râu quai nón
này, hay là cậu vào chơi tí cho đủ người, chúng ta chơi vài ván cho vui
đi. Không muốn làm họ
cụt hứng nên bằng lòng đại cho qua chuyện. Thằng Hiệu lấy tờ
báo ra, trải xuống dưới gốc cây đa, cả bốn người ngồi bệt xuống đất,
chúng tôi chơi bài ăn tiền, Phong Vận Đan ngồi bên tên Thư Sinh cười
híp hết mắt mũi. Chơi một hồi, tên
Thư Sinh thắng khá nhiều tiền, xem hắn có vẻ là người chơi bài ăn tiền
chuyên nghiệp, Phong Vận Đan là người không biết chơi nhưng ngồi bên
hắn cũng chia vận may với hắn. Thằng Béo thua nhiều quá lú hết cả người
nói: “Phong Vận Đan cô đến ngồi bên tôi đi, cô là thần tài đấy, cô ngồi
đâu thì người đó thắng, cô không thể chỉ chiếu cố mãi một tên Thư Sinh
kia được”. Phong Vận Đan cười
hớn hở đứng dậy, nhìn quanh một lát đột nhiên cô nói: - Sao Hiệu anh giờ
này còn chưa về nhỉ? Lão Tứ nghe nói
liền ngồi dậy, lúc nãy đến giờ ông ngồi dưới gốc cây, chắc lão quá buồn
ngủ nên đã ngủ ngồi dưới gốc cây. Mãi chơi không biết thời gian trôi đi
đã bao lâu, nhìn lại đồng hồ thì đã hơn bốn giờ khuya. Lão Tứ dụi mắt
hỏi: “Thằng Hiệu anh vẫn chưa về à?” - Anh ấy, chắc anh
ấy không sao chứ? Thằng Hiệu em cũng nói với giọng khá căng
thẳng. “Mẹ đi không bồng
con theo, để con lại một mình….” Tiếng hát trong đêm khuya của gã điên
cổ quái đó lại vang lên…. - Ra ngoài xem
sao. Nói xong Lão Tứ đi đầu, nhoáng một cái đã biến mất, mấy người
chúng tôi cũng vứt bài xuống chạy theo Lão Tứ tìm. Chỉ có thằng Béo
thua nhiều tiền quá nên không cam tâm dừng cuộc chơi, hắn lẩm bẩm tức
giận: “Thế là xong không chơi nữa à? Nhanh lên mà về chúng ta chơi tiếp
nhá”
Chúng tôi thấy
thằng điên đó ngoài miễu, áo quần rách rưới lam lũ, nhơ bẩn hôi thối
không ngửi được, đầu tóc rối bời như tổ quạ phủ lấy khuôn mặt vàng võ
gầy giơ xương của hắn, đôi mắt lồi to sáng quắt đến rợn người, mồm cứ
hát mãi lui tới cái bài đồng dao đó, vừa đi vừa nhảy thỉnh thoảng hái
lấy mấy ngọn lá cho vào mồm.
Hiệu em gọi to:
“hỏi xem thử hắn có thấy anh tớ không?” Lão Tứ dựng mày:
“hỏi cái con khỉ mốc, nhìn hắn như thế làm sao hỏi được, hỏi thằng điên
chi bằng hỏi cái đầu gối! Chúng ta cứ tiếp tục tìm đi thôi!” Gã điên ngật ngà
ngật ngưỡng đi vào ngôi miễu, Phong Vận Đan nhíu mày: “Anh Tứ à, hành
lý của mọi người đều nằm ở đấy cả” - Một người ở lại
đây trông hành lý. Thằng Béo đang
lười đi, câu nói này làm hắn vui hết lớn, hắn đợi mỗi câu nói đó nên
vội vàng nói ngay: “tôi, tôi ở lại đây trông hành lý cho mọi
người”
Người trong làng
không ai muốn nói chuyện nhiều với chúng tôi, trông thấy chúng tôi họ
vẫn nở nụ cười chào nhau như hôm nào nhưng khi hỏi đến vấn đề gì thì họ
tránh chúng tôi như tránh tử thần. Thực không thể nào hiểu được tại sao
họ lại sợ chúng tôi đến thế.
Nghĩ đến chuyện
này thì thật là hoang đường, theo lời ông Tứ bảo, thì chúng tôi mới là
người sợ họ chứ tại sao họ lại sợ chúng tôi, hình như họ nghĩ chúng tôi
không phải là người mà là hiện thân của quỷ dữ. Chúng tôi ra ngoài
miễu đi một vòng, thằng Hiệu em chỉ ngôi nhà trước mặt nói: “Kia là nhà
của ông mổ lợn”
Quả nhiên, chúng
tôi ngửi thấy một mùi thơm của thịt nướng nức mũi. Ngôi nhà của ông mổ
lợn có vẻ khá hơn những nhà khác trong làng, nhưng dù sao thì trông vẫn
cũ kỹ, trước bức tường đổ nát trước nhà có hai cây đèn lồng đã cũ, gió
tạt mưa san cây đèn chỉ còn lại mấy cọng sườn tre và phía dưới lủng
lẳng mấy miếng vải rách. Cửa nhà vẫn đang mở, chúng tôi cẩn thận tiến
vào. Trong sân vẫn là nền đất cát như ngoài đường, cỏ tạp mọc đầy cả
lối đi, cây cọc gỗ bị dầm mưa dải nắng như chiếc răng ông già sắp rụng
bao giờ không biết, thật không hiểu tại sao chủ nhà lại có thể sống
trong ngôi nhà mục nát có thể sập bất cứ lúc nào này. - Có ai không? Có
phải nhà của bác bán thịt lợn đây không? thằng Hiệu em gọi
lớn.
Chiếc cửa cũ nát
của ngôi nhà từ từ mở ra nhưng một lúc lâu sau vẫn không thấy bóng dáng
ai cả. Trong nhà tối om như mực, không thể nhìn thấy gì khi đứng bên
ngoài. Chiếc cửa mở rỗng ra giống như chiếc mồm của ác quỷ, hình như nó
đang chực chúng tôi lại gần rồi bất ngờ nuốt chửng lấy mấy người chúng
tôi, Phong Vận Đan sợ hãi rút lui lại sau lưng tôi, nói khẽ trong tiếng
run run: “không có ai trong nhà cả, là ngôi nhà… ma” Khâu Lão Tứ nói:
“đừng có cái kiểu thần hồn nát thần tính như thế” nói xong lão quát
lớn: “xin hỏi có ai ở nhà không?” - Đến mua tim lợn
à? Giọng nói vọng ra từ trong nhà có vẻ uể oải, lười nhác, đó là giọng
của một người đàn ông. “không phải cửa nhà vẫn để thế không đóng sao?
mấy người cứ tự nhiên mà vào đi” - Chúng tôi tìm
người chứ không phải đến mua tim lợn. Khâu Lão Tứ định nhấc chân tiến
vào nhà, nhưng nghĩ bụng lão bỗng dừng chân lại.