Ngôi làng thứ bảy Hy Sinh Tầng
thứ năm trong căn hầm dưới đất của tập đoàn phần mềm máy tính họ Trần
rốt cục ẩn giấu thứ gì?
Lòng
hiếu kỳ của Đào Tử tăng dần lên khi cánh cửa cầu thang điện mở ra. Đôi
chân cứ bước ra khỏi cầu thang như có một sức mạnh nào cuốn hút cô, cô
phát hiện mình đang đi vào đại dương mênh mông của một sự sắp đặt có
thứ tự. Đó là hệ thống tổ hợp của một chiếc máy chủ đồ sộ! Trên mấy
trăm chiếc giá đầy ắp những bộ phận xử lý với các công năng khác
nhau. “Có thấy lạ
không?”. Tạ Phi đang đi sau lưng bỗng hỏi tôi. “Tất cả ở đây bao
gồm các seri trò game, đều là tâm huyết của anh ấy đấy”. “Anh
ấy” chính là Tần Ca - người lập trình viên đã mất tích mười năm trước
đây, đôi mắt Đào Tử bỗng như sâu thêm, cô nghĩ như vậy và tự nhủ, hỏi
như vậy không phải là không có căn cứ, mà cô hỏi là để khẳng định thêm
cho mình. Không đợi Tạ Phi trả lời cô nói tiếp: “Tôi đã nghiên cứu kỹ
càng bối cảnh xuất thân của anh. Chín năm trước, tức vào năm thứ hai
sau khi Tần Ca mất tích, có một người mang họ Tần thi đỗ vào khoa tin
học trường Bách khoa, sau khi tốt nghiệp anh ta lại đến Tỉnh Ma để học
tiếp lên thạc sĩ”. Lúc
đó, Tạ Phi vẫn bình tĩnh im lặng, cậu giống như một bậc vương giả nhìn
xuyên suốt toàn cục. Anh ta điềm đạm nói: “Với kiến giải của cô thì cô
cho rằng họ có quan hệ gì?”. “Về
tuổi tác thì họ là hai anh em ruột. Tôi cũng đoán ra rằng, anh chính là
em của Tần Ca, nhưng tôi không hiểu tại sao anh lại mang họ
Tạ”. Câu
nói của tôi không làm Tạ Phi giật mình mà ngược lại, anh ta còn cười
ngặt ngẽo và nói: “Ngay cả thân phận còn không thật thì tên có ăn thua
gì?” Mấy năm nay, để
tìm
tung tích anh Cả, hắn vùi đầu vào học, mai danh ẩn tích… tất cả những
gian nan vất vả đó giờ đã tìm ra tên đầu sỏ gây án, nên sau cơn kinh
hãi thoáng hiện trên mặt là niềm vui được giải phóng. “Anh ruột tôi đâu
phải mất tích, anh ấy đang ở đây!” Câu
nói đột ngột của Tạ Phi làm Đào Tử giật mình, cô đảo mắt nhìn quanh chỉ
thấy ngoài hai người là cô và Tạ Phi ra chẳng thấy gì ngoài những cỗ
máy đồ sộ nằm im bất động. “Anh trai tôi là
một thiên tài lập trình, chính anh ấy đã viết phần mềm mẫu cho seri trò
chơi “Bảy ngôi làng ma”.
Trong
khi kể về sự thật về anh trai mình mặt Tạ Phi bỗng sa sầm xuống, giống
như bị quỷ ám. “Nhưng cô biết không? Tên tiểu nhân Trần Hoa đã dùng thủ
đoạn đê tiện để cướp đoạt thành quả đó. Công ty phần mềm cái quái gì,
nếu không có seri trò chơi của anh trai tôi thì chúng có giàu có như
bây giờ không? Còn tên Trịnh Dung Tân nữa, hắn rõ ràng biết chuyện
nhưng không dám lên tiếng mà im như thóc, thật hắn quả là đồ bỏ
đi”.
Chân tướng sự việc
đã bắt đầu được hé mở, cố ghìm nén sự kích động trong lòng Đào Tử lặng
im nghe Tạ Phi nói tiếp.
“Cô
có biết, khi một người thanh niên khắc khổ học tập, làm việc, kinh
doanh nhưng lại bị kẻ khác chiếm đoạt cả tiền tài lẫn danh tiếng, sẽ có
cảm giác thế nào không? Anh trai tôi lẽ ra có thể từ chức, từ bỏ thế
giới game, nhưng anh ấy đã vì tôi, vì tôi vẫn còn trong cái ngôi làng
cắn đất mà ra sắt, chó ăn đá gà ăn sỏi đó mà ở lại công ty. Anh ấy muốn
cho tôi một cuộc sống khá hơn, nên đành phải im hơi lặng tiếng. Tên
Trần Hoa đe dọa, nếu không làm việc tại công ty hắn thì đừng hòng làm
việc được ở đâu, dù đến chân trời góc biển hắn cũng truy lùng để giết
chết”. “Nhưng rốt cục hắn
đã nhẫn tâm giết anh trai anh còn gì?” Đào Tử hỏi nhưng
thấy Tạ Phi dường như không nghe thấy gì, hình như hắn đang trầm ngâm
trong ký ức đau khổ đó.
“Tôi
nghĩ, anh ấy ý thức được cái chết sẽ đến với mình nên đã ôm tất cả nỗi
hận đó ném vào trong seri trò chơi “Bảy ngôi làng ma”. Năm thứ hai sau
khi trà trộn thành công vào trong công ty Trần Hoa, thì tôi phát hiện
ra bí mật đó. Tôi đã viết lại trò chơi, đã phong kín hơn mười năm đó,
để nó có thể thích ứng với trào lưu thời đại và hệ thống vi tính hiện
đại, hoàn thành ý niệm báo thù của anh trai tôi.
Đào
Tử không hỏi gì thêm, bây giờ, điều hoài nghi lớn nhất trong đầu cô là:
“Làm sao mà Tạ Phi biết được những bí mật liên quan tới Tần Ca? Chẳng
lẽ người ta có thể nói chuyện được với người đã chết?” Dường
như đọc được những suy nghĩ của cô, Tạ Phi lấy một bản vẽ từ trong hộp
tin ra bảo: “Chính những bức họa này đã nói cho tôi biết tất cả! Trong
tầng hầm này, tôi có thể vẽ lên linh hồn của anh tôi, anh ấy đang ở
đây”. Nói xong, Tạ Phi tiêu hủy hết đống bản thảo đó.
Những
tấm vẽ phác thảo lập tức bay lả tả trong không trung, giống như những
bông hoa tuyết cực lớn. Đại bộ phận những bản phác thảo đó mô tả câu
chuyện cuối cùng trong “Bảy ngôi làng ma”, câu chuyện của chính người
đã thiết kế ra nó, tức là những chuyện mà Tần Ca đã trải qua trong trò
chơi.
Cũng giống như số
mệnh của người trải qua trong trò chơi, nó có cái tên mang tính khái
quát là “Hy sinh”.Mấy năm trước, tôi có ăn phở ở một thị trấn của huyện
nhỏ, không ngờ, bát phở đó đã làm thay đổi cả cuộc đời tôi.
Ông
chủ gánh phở rong đi chiếc xe đạp, sau yên xe có đèo thêm chiếc sọt đan
bằng cành liễu, cả thức ăn toàn bộ gia sản đều nằm trong chiếc chén nhỏ
bằng sứ xanh rồi mang cho tôi. Bát phở đó tôi đã ì à ì ạch ăn trong hơn
nửa giờ, ăn xong tôi bắt chuyện với ông lão, rồi tôi đã mua cái bát
xanh bằng sứ đó với giá hơn hai mươi đồng.
Ngay
hôm đó, tôi không có thời gian để tiếp tục công việc kiếm tiền mà tôi
đang thực hiện nữa, lập tức bắt xe trở về. Trong suốt quãng đường đi,
tim tôi cứ đập liên hồi. Tuy chưa được xác nhận chính xác, nhưng tôi
tin rằng, bảo bối tôi có được đó là cái chén được làm từ đời Nguyên.
Chiếc bát đó không những quý vì nó là cổ vật mà nguyên liệu làm ra nó
cũng rất hiếm, công dụng chủ yếu là để cúng tế, rất hiếm trong dân
gian. Không biết mộ tổ nhà tôi có phải đã mọc cỏ cảo không mà khiến tôi
có được chiếc bát này.
Chiếc
bát nhỏ đó đã bán với giá tám mươi vạn nhân dân tệ, đó là món thu nhập
lớn nhất kể từ khi tôi buôn bán đến nay! Nửa năm sau, khi đọc một tin
trên mạng, tôi được biết cũng chiếc bát đó đã được bán với giá hơn hai
triệu.
Từ đó, tôi
bắt đầu theo định kỳ đi đến các vùng hẻo lánh và những ngôi làng ma,
mua lấy những cổ vật vô giá mà người dân ở đó thường xem như đồ bỏ đi.
Quả thực, tôi đã trở thành người buôn đồ cổ. Khi bước vào nghề tôi chỉ
đặt ra mục tiêu là kiếm tiền, lừa đảo những người nghèo nàn thiếu học,
thiếu hiểu biết. Nhưng về sau, tôi đã nghiện cái nghề này. Trước khi
hành nghề tôi là một nhà thơ, mấy năm liền trước đó nó khiến tôi không
còn lòng dạ nào kinh doanh nữa, đã không kiếm được tiền mà người tôi
xem ra bốc lên toàn mùi đồng và mùi đồ cổ. Sau khi trở thành người buôn
đồ cổ, tôi đã đi du lịch khắp đó đây trên thế giới, điều đó đã thỏa trí
nguyện ngao du sơn thủy, khi tìm được báu vật trong đống đổ nát hoang
phế, tôi bỗng thấy tự hào hơn cả Cô_Lôm_Bô khi phát hiện ra châu lục
mới.
Hiện nay, trong
một năm phải có hơn tám, chín tháng ròng tôi ở trong những ngôi làng
hẻo lánh để truy tìm cổ vật. Tuy rằng có lúc suốt cả mấy tháng liền tôi
chẳng kiếm được món đồ cổ nào, nhưng trong lòng tôi luôn kiên định niềm
tin sẽ có ngày kiếm được bảo bối. Tôi hoàn toàn tin tưởng rằng trên đời
này còn có nhiều đồ cổ vật đang khuất lấp sau lớp bụi nhơ bẩn chờ bàn
tay tôi mang chúng trở lại trong ánh hào quang của tiền bạc. Mùa hè năm
nay, tôi đã ngồi trên xe suốt hơn bốn mươi giờ, đi đến các ngôi làng
hẻo lánh vùng Tây Nam Trung Quốc.
Trong
huyện lỵ nhỏ bé hẻo lánh nghèo nàn đó, mưa lâm râm suốt ngày suốt
tháng, bốn bên đều có núi cao vây chắn, đây quả là một ngôi làng khép
kín điển hình. Con đường nhỏ trong huyện sạch bóng sau cơn mưa, những
ngôi nhà gỗ và mặt đường lát đá xanh đẹp như tranh thủy mặc.
Ngày ngày, ngoài
thời gian đi loanh quanh các con phố, ngõ hẻm ra tôi ngâm mình vào
trong một quán trà nhỏ duy nhất trong huyện.
Khách
chính trong quán trừ một vài ông lão trong làng ra thì đều là khách
vùng khác đến. Người vùng khác rất hiếm khi đến vùng này, người muốn
đến quán nhỏ này uống trà càng ít. Trong quán ngoài tôi ra, chỉ còn có
hai người trạc tuổi tôi - khoảng hơn ba mươi, thế là tự nhiên chúng tôi
ngồi lại với nhau, bàn tán dăm điều ba chuyện mua cười! Trái đất quả là
tròn, hóa ra hai người đó cũng là đồng nghiệp với tôi, họ vốn là những
người ở thành phố đã quen sống sung túc, được cha mẹ cưng chiều từ nhỏ.
Nay phải chịu thiệt thòi, phải chôn mình nơi vùng chó ăn đá gà ăn sỏi
này để mong chờ có ngày tìm được báu vật đồ cổ.
Tối hôm đó, chúng
tôi ngồi lại với nhau uống rượu.
Lúc
đó, tôi mới biết tên đầu trọc là Vương Lỗi, trông hắn vai u thịt bắp,
từng lăn lộn trong chốn giang hồ, có lần bị chém phải nằm viện hơn nửa
năm, sau khi xuất viện gan hắn bỗng trở thành gan thỏ, không dám cầm
dao nữa chứ đừng nói chuyện chém nhau giết người. Ông nội hắn trước
từng buôn đồ cổ, ông ta có chút hiểu biết về món chơi này, con nhà tông
không giống lông cũng giống cánh, đứa cháu đã kế nghiệp tổ truyền, cũng
đi buôn đồ cổ.
Tên
nói chuyện cứ lắp ba lắp bắp là Đàm Xuyên, lớn tuổi hơn Vương Lỗi, nhỏ
hơn tôi vài tuổi, tên này ít nói, thoạt nhìn cứ tưởng hắn là người mưu
sâu kế hiểm, nhưng tiếp xúc lâu thấy hắn là người thật thà. Trước đây
hắn ở Cục di sản vì đánh cắp cổ vật nên bị đuổi khỏi cơ quan, từ đó hắn
danh chính ngôn thuận trở thành người buôn bán đồ cổ.
Hai
tên này đến trước tôi mấy hôm, nhưng công việc làm ăm trong huyện nhỏ
nghèo kiệt xác này không ra gì. Ở vùng này tuy là xa xôi hẻo lánh nhưng
mỗi năm có đến mấy mươi lượt người đến hỏi mua đồ cổ nên đồ quý giá đã
bị họ quét sạch sành sanh. “Qua
mấy hôm nữa, các vùng lân cận và trong vùng này sẽ có buổi chợ phiên ở
đây”. - tên Đàm Xuyên nói. Đây cũng là lý do chính khiến chúng tôi ở
lại đây.
Nói thực,
trong vùng nhỏ tẹo này mà lại đụng hàng thì tôi không thích chút nào và
cảm thấy có chút áp lực nào đó! Đồ tốt đã không nhiều lại nhiều người
mua, kiểu san sẻ này quả là bất tiện. Nhưng thiết nghĩ. Cái nghề này
ngoài vận may ra thì trình độ nghề nghiệp cũng rất quan trọng nên dù
nhiều hay ít cũng không thành vấn đề. Nếu thiếu bản lĩnh, thì bảo vật
nằm trước mắt cũng không biết.
Trong
ngày trời nhiều mây có mưa, cái huyện nhỏ này như ngâm mình trong nước,
đâu cũng ẩm thấp, chăn đệm trong quán dường như lúc nào cũng có thể ra
nước. Là người bôn ba đã nhiều như tôi vẫn thấy không chịu được, may mà
chợ phiên chỉ còn 3 ngày nữa là họp.
Nhiều
vùng nông thôn cho đến giờ vẫn còn tiếp tục chợ phiên, mỗi chợ phiên
cách nhau càng lâu thì hàng hóa mang ra mua bán càng phong phú. Trong
cái huyện này đến nửa năm mới họp một lần nên nhộn nhịp hết sức, quả
tôi không ngờ đến. Hơn nữa, hình như trời cũng biết chiều theo lòng
người, hơn nửa tháng nay trời hanh ráo, có hôm còn có cả ánh mặt trời.
Tôi dạo bước trên đường vào chợ, vừa đi vừa tắm mình trong nắng, vừa
phơi “tâm hồn” mình luôn. Đôi mắt cũng như ốc sên ngủ đông, đến hôm
trời nắng cứ thế mà bổ lung tung. Chợ tại vùng nông thôn hẻo lánh thông
thường người ta chỉ bán những nhu yếu phẩm hàng ngày, thỉnh thoảng các
vùng lân cận mang theo những đặc sản của vùng mình. Chợ kéo dài suốt
mấy dặm, dường như nó chiếm cả hai con đường giao thông chủ yếu của
huyện lỵ này. Nếu nơi đây vẫn còn là một nhà thờ như ngày xưa, thì tôi
đã ngất ngây trong cái không khí mang đậm bản sắc văn hóa của từng vùng
miền này rồi, nhưng giờ tôi đã là một người buôn đồ cổ, mục tiêu của
tôi là mua rẻ mạt những bảo bối bị sự ngu dốt thiếu hiểu biết của người
dân che lấp rồi mang chúng lên các thành phố hiện đại để bán kiếm món
tiền hời cho nên phiên chợ này, ngược lại tôi thấy mệt lả, chán chường,
thất vọng, lưu lại hơn một tuần, tiền trong túi đã hết, hàng cũng không
có, chuyến này đành phải gióng trống thu quân, treo cờ trắng
thôi!
Quá
trưa, tôi ăn qua loa vài miếng cho đỡ đói rồi tiếp tục săn tìm bảo bối.
Thời gian đã không phụ lòng người có tâm, chẳng mấy chốc, tôi phát hiện
ra một lọ gốm.
“Lọ ngũ
Liên”.
Tim
tôi như nhảy vọt lên theo đôi mắt, tôi vội quay đầu nhìn dáo dác bốn
bể, không phát hiện thấy hai ông bạn “đáng quý” đồng nghiệp kia. Thật
hú hồn hú vía! Người xưa nói quả là không sai chút nào: đồng nghiệp
tương khắc mà! Lúc đó tôi mới nhìn chàng trai bán lọ kia.
Hắn
trạc bốn mươi tuổi, khuôn mặt đen như cột nhà cháy, thô tháp như vẻ
ngoài dầm sương dãi nắng đã nhiều. Bây giờ, những người như hắn đi chợ
rất nhiều, tuổi thực của họ trẻ hơn nhiều so với hình vóc họ. Họ không
nói năng hay chào hàng gì mà cứ ngồi bất động sau sạp hàng chờ người
đến hỏi mua đồ. Tôi ngồi xổm trước mặt anh ta, thỉnh thoảng đưa tay hươ
hươ mấy chân nấm rừng đã khô trong chiếc sọt tre. “Món này của anh
được đấy, mua về thết bạn bè thì tuyệt đấy!” tôi giả giọng tiếng phổ
thông chập chọe để bắt chuyện với anh ta.
Anh
ta chẳng nói chẳng rằng, nhưng nhìn vào đôi mắt đầy hy vọng của tôi.
Tôi luống cuống hươ mấy cây nấm khô và hỏi: “Bao nhiêu chỗ
này?”.
Trên
khuôn mặt hắn tỏ ra nét cười gượng gạo. Anh ta vừa ra giá tôi đã biết
anh ta là người chất phác nên tôi không trả giá gì cả, cứ thế nhét vào
túi đựng. Anh ta đếm một cách cẩn thận, lấy ra tờ năm mươi đồng trả
lại, tuy không nói gì nhưng tôi biết đó là số tiền thừa khi mua hàng
này nên anh ta trả lại cho tôi. Tôi không cầm tiền mà cầm chiếc lọ lên
nói: “Anh cứ cầm đi, tôi mua chiếc bình này nhé?”.
Anh
ta cũng không nói gì chỉ ngẩn người nhìn tôi. Tôi cười, trong bụng như
hoa xuân đang nở, đoán biết những người trong vùng hẻo lánh này chắc
khó lòng cưỡng lại được sức cuốn hút của năm mươi đồng! Ở vùng này giá
cả vật dụng rất rẻ, chỉ cần năm mươi đồng đủ mua được khối thứ. Nhưng
tôi đã nhầm, anh ta đưa tay giật lấy chiếc lọ trong tay tôi. Lúc đó,
trên mặt anh ta nở một nụ cười kỳ quái. Khi bạn thấy trên khuôn mặt
chất phác ai đó bỗng nở nụ cười đầy âm mưu, thì bạn sẽ có cảm giác của
tôi bây giờ. “Tiền này trả lại
cho anh đấy, vật này không thể cho anh được!” Gã mặt đen nói. Tôi lấy trong túi
ra mấy tờ tiền giấy như kiểu đánh bạc đưa anh ta và bảo: “Thôi thế thì
tôi thêm cho anh mấy đồng vậy”.
Gã
mặt đen không nói năng gì chỉ cười, bây giờ nụ cười anh ta càng có vẻ
quỷ quyệt hơn. Lúc đó, tôi chợt nhớ lại câu chuyện “Bà già mua mèo” rất
nổi tiếng. Bà lão lấy cái bát đồ cổ thật quý để cho mèo ăn, trong khi
bà ta mang mèo ra chợ bán, chẳng lẽ gã này cũng dùng chiêu mang cái lọ
gốm cổ này để chào hàng mong họ mua nấm khô của mình cũng nên.
Nhìn nụ cười trên
khuôn mặt của gã mặt đen, tôi thấy mình không thông minh như mình
nghĩ.Chiếc
lọ đó kể cả hoa văn trên lọ là năm cái liền nhau nên gọi là lọ Ngũ
Liên, loại lọ này chuyên đựng hồn người. Sao lại gọi là lọ đựng hồn
người? Nói tóm lại, lọ Ngũ Liên là loại lọ chuyên dùng để đựng thức ăn
cho người chết, là vật dụng hàng ngày của người âm. Đến nay, vẫn còn
rất nhiều vùng biên giới còn tin là linh hồn bất tử, cho rằng, khi có
người chết chẳng qua là cái chết của thân xác bằng xương thịt chứ linh
hồn vẫn còn tồn tại nhưng lúc này đã tồn tại trong một thế giới khác. Ở
thế giới đó, họ cũng sinh hoạt hệt như khi còn sống. Vì thế loại lọ
này, ngoài việc cúng tế cho hồn người chết ra, nó còn là nhà ở cho
người chết, họ tin rằng, hồn người chết trú ngụ trong chiếc lọ đó, nên
chiếc lọ này là cầu nối giữa thế giới người sống và thế giới bên
kia.
Thoạt
nhìn, tôi đã nhận ra ngay đó là chiếc lọ cổ, có nghĩa là ít nhất nó
cũng được vài ba trăm tuổi, có thể ông tổ tiên anh ta truyền lại. Chiếc
lọ này nếu được mang ra các thành phố lớn để bán, thì nó thuộc hàng
độc, không biết bao nhiêu tiền, ít ai nói trước được. Nếu mua được
chiếc lọ xem như chuyến này đã thành công. Trên chiếc lọ này nếu nhìn
kỹ, sẽ thấy những hoa văn mờ nhạt, tôi đưa tay sờ sờ mới biết những hoa
văn đó đã được vẽ trước khi đem nung.
Có hình vẽ trang
trí cũng là bình thường, không có gì đáng nói, điều mà nó hấp dẫn tôi
là ý nghĩa của những hoa văn đó.
Trong
hình vẽ trang trí, họ đã chấm phá vài đường nét hình mặt người rất đơn
giản, rất trừu tượng, nhưng bất kỳ ai chỉ cần nhìn kỹ là sẽ thấy đó là
hình mặt người. Cuối hình mặt người có kẻ một đường sâu xuống đáy lọ,
xuống gần đáy lại có hình tam giác ngược, trong hình tam giác lại có
thêm mấy đường giống như cỏ vậy.
Trước
nay tôi chưa thấy kiểu trang trí nào như thế cả, nhưng cũng có thể nhận
thấy đó là phong cách trang trí thời tiền sử. Nếu may mắn chiếc lọ này
chắc cũng có hơn vài nghìn năm tuổi, như thế, nếu mang ra thành phố
hiện đại thì cái giá của nó phải lên đến con số ngoài sức tưởng tượng
của tôi. Càng nghĩ tôi càng thấy trong lòng khoan khoái nao nức, càng
nao nức thì càng không thể bỏ qua cơ hội này. Nhưng bất luận nói gì, gã
mặt đen kia vẫn lắc đầu, vẫn cứ cười nụ cười bí hiểm đó.
Sao mình lại có
thể thất bại dưới tay một kẻ ngu dốt mọi rợ này được! Thế mà tôi lại bó
tay hết cách trước gã mặt đen quê mùa dốt nát này. Tôi nghĩ hay phải
tìm cách khác?
Thế là sau khi tan
chợ tôi ngầm theo bước gã mặt đen kia.
Tôi
nghĩ, chiếc lọ này không thể cất giữ riêng biệt, có lẽ trong làng này
còn có nhiều thứ khác tương tự. Chỉ cần theo chân gã, đi đến ngôi làng
mà gã đang sống chắc còn nhiều thứ đồ cổ quý giá khác, không chừng tôi
sẽ phát hiện được hàng loạt bảo bối như thế hoặc tương tự như thế. Đến
lúc đó ta có thể mặc sức mua vài kiểu, tha hồ kiếm lãi!
Gã
mặt đen đến cuối chiều tan chợ mới về, vì tôi đã chuẩn bị trước, nên
mang theo vài thứ cần thiết, tôi lẽo đẽo bám theo anh ta. Gã đi bộ, tuy
lưng cõng một cái sọt to đùng nhưng vẫn lao như tên bay trên con đường
sườn núi về nhà. Thật khổ cho tôi, tôi chưa bao giờ phải chịu như vậy,
vừa bò vừa trườn bám theo anh ta không để lạc mất, lại vừa phải cố gắng
không cho anh ta biết. Trời càng lúc càng tối, màn đêm vây bủa xuống
núi rừng, cứ nhấp nhem những thứ gì không rõ lắm, chúng giống như những
quái thú ẩn trong đêm. Những con chim lạ cứ kêu hoài không thôi, các
động vật rắn rết không nhìn rõ lắm cứ lấp la lấp loáng. Tôi thấy hai
chân nặng như mang chì, vừa đi vừa run, không phải tôi là thằng nhát
gan, nếu là người khác thì cũng khiếp vía giống tôi thôi.
Sau
đó, tôi đi như cái máy, động lực giúp tôi tiếp tục đi được là chiếc
bóng của gã mặt đen trước mắt, vì thế nếu để lạc mất anh ta thì tôi sẽ
rơi vào thảm cảnh nếu không bám theo anh ta, thực tình tôi không biết
sẽ phải đi về đâu, bốn bề là rừng rậm bao la, dãy núi trước mắt chỉ còn
sót lại vài chiếc bỗng thưa thớt, cứ dật dờ không nhìn rõ ra được. May
mà khi trời tối anh ta đã thắp đuốc lên, tôi cứ thế bám theo ngọn đuốc,
không biết đã đi được bao lâu, bỗng tôi hẫng người như đi vào khoảng
trống, ngã lăn nhào lộn tròn mấy vòng… Khi dừng lại, trên vai đau buốt
như bị ai đâm, nhưng cũng may là không bị bong gân trật khớp
gì.
Ngẩng
đầu lên, tôi không thấy ánh đuốc nữa. Tôi ngẩn người một lát, rồi nhanh
chóng nhận ra ngay hậu quả của việc không tìm ra ánh đuốc. Tôi đã mất
phương hướng trong cánh rừng bạt ngàn giữa đêm đen, nếu may mắn, tôi
chỉ sống sót như một người rừng. Tôi dần thấy sợ, nỗi sợ và lạnh đã
ngấm vào tôi, đục khoét tôi. Đột nhiên tôi chạy về phía trước, tôi phải
tìm ra gã mặt đen trước khi anh ta đi khuất quá xa. Lúc đó, tôi không
còn thời giờ để giấu mình nữa, tìm ra một người bạn trong lúc này còn
quý hơn cả vàng bạc.
Gã mặt đen thực sự
mất dấu, tầm mắt tôi nhìn ra đâu cũng chỉ thấy một màu đen kịt của đêm
trong núi rừng.
Trước mắt có cái
đuốc thấp thoáng, tôi bò lên, thở phào nhẹ nhõm.
Trước
dốc là một bức tường đứt đoạn, tôi đang trên bức tường bị đứt đó. Gió
từ xa thổi lại, chiếc áo ướt đẫm mồ hôi dính sát vào người lạnh tanh,
tự nhiên tôi thấy sảng khoái. Điều khiến tôi vui mừng hơn đó là trước
bức tường đứt, có mấy điểm sáng của ánh đèn lấp loáng như sao rụng. Hơn
nữa mấy điểm sáng đó cứ tiến lại gần nhau hơn. Chùm sáng di động chắc
là ánh đuốc của gã mặt đen, còn mấy điểm sáng đó chắc là làng
mạc…
Lúc
đó, niềm vui cuối cùng đã làm chùng dây thần kinh của tôi, cái mệt nhọc
bọc lấy tôi như màn đêm đang bủa vây lấy núi rừng, vũ trụ vậy. Tôi ngồi
bệt trên mặt đất thở hổn hển…
Lúc
đó, tôi nghe sau lưng có tiếng gì như tiếng dế, quay phắt cả lại nhìn
về phía phát ra tiếng kêu, tôi chẳng thấy gì cả! Nhưng tiếng dế kia vẫn
còn. Tôi rùng rợn hết cả người, động vật kỳ quái, không biết giờ nào là
giờ kiếm ăn của chúng, không chừng tôi lại trở thành mồi ngon trong
miệng chúng. Tôi cẩn thận đứng dậy, nhìn quanh bốn phía không thấy vật
gì làm vũ khí. Tiếng kêu đó ngày càng to, lúc đó, trong tiếng dế tôi
còn nghe thấy cả tiếng bước chân người. Tôi theo gót gã mặt đen đã lâu,
ngoài hai chúng tôi không thể có người nào khác. Lúc đó đã hơn nửa đêm,
lại còn ai ở đây làm gì nữa chứ?
Sau
lưng tôi là vực sâu muôn trượng, không thể rút lui, tôi đành đứng yên
bất động đợi tiếng bước chân càng lúc càng gần. Cuối cùng tôi thấy hai
bóng người xuất hiện dưới ánh trăng, tuy không nhìn rõ hình dáng họ,
nhưng tôi nhận ra chúng, tên đầu trọc Vương Lỗi và Đàm Xuyên.
Không
phải chúng đang ở lại trong chợ để mua đồ cổ sao, sao chúng lại xuất
hiện ở đây. Tôi nghĩ mãi mới suy đoán rằng, chắc chắn chúng cũng đã
nhìn thấy chiếc lọ của gã mặt đen. Chúng cũng như tôi, không thể dùng
mánh khóe nghề nghiệp để mua chiếc lọ kia được, nên mới bám gót tên mặt
đen này rồi đến đây. Bây giờ, cả Vương Lỗi và Đàm Xuyên thấy tôi, chúng
gọi tên tôi, hớn hở cười cười nói nói lại gần tôi. Tôi đứng sững người
nhìn họ với ánh mắt trìu mến. Tôi không giận vì họ đã tranh giành với
tôi và đã bám gót tôi, từ hồi chiều chúng đã theo tôi, suốt chặng đường
chúng không gọi tôi cũng không để tôi phát hiện ra. Đây gọi là bọ ngựa
bắt ve sầu không ngờ chim sẻ đứng sau lưng, rõ ràng chúng đã tính trước
tôi, trên con đường này mà gặp được bạn thì còn quý hơn vàng, có bạn
không những khiến cho mình gan dạ hơn mà còn có thể giải quyết được khá
nhiều việc.
Tôi nhặt
hai viên đá nhỏ ném về phía chúng. Chúng cùng cười rộ lên sảng khoái,
tên đầu trọc Vương Lỗi nói: “Anh quả là gan dạ thật, một mình đi xa
thế, anh em chúng tôi khâm phục anh rồi đó!”Dưới
chân núi là ruộng lúa mênh mông. Lúa đang thì trổ bông, từng cơn gió
thoảng qua làm những đám lúa có mấy hình nộm, dưới ánh trăng mờ tuy
không nhìn thấy được vẻ hung tợn của nó. Tôi cùng tên Vương Lỗi, Đàm
Xuyên, cả ba người, đang băng mình trên đường bờ ruộng, nhắm thẳng về
phía ngôi làng trước mặt. Đêm đã về khuya, mấy ngọn đèn thấp thoáng
trên núi giờ đã tắt, chỉ còn lại lưa thưa vài ánh sáng yếu ớt. Vì chúng
tôi gồm có ba người cùng đi chung lên cũng khá bạo gan, vừa đi vừa kể
chuyện cười… Tâm lý của
chúng cũng giống tôi, cũng muốn vào làng này kiếm được vài thứ đồ cổ
mang về. Nhưng không ai dám chắc được kết quả ra sao.
Vào
làng, chỉ thấy mấy ngôi nhà xây bằng gạch đá, chắc chắn những ngôi nhà
đó cũng đã có tuổi! Trong các kẽ hở giữa bức tường đá, mọc đầy những
cây hoang cỏ dại. Đường làng tiếp nối với các bờ ruộng nhỏ ngoài đồng,
chúng tôi chung bước trên con đường nhỏ, cứ dáo dác nhìn quanh bốn
phía, nhưng cả ngôi làng vẫn đang chìm trong im ắng, đâu đâu cũng lặng
ngắt như tờ, cả tiếng chó cũng chẳng nghe thấy. Ánh trăng lạnh lùng rải
xuống ngôi làng và núi rừng hoang dại. Lúc đó, cả ba chúng tôi đều cảm
thấy lạnh người, ngôi làng ngập chìm trong hơi sương lạnh
buốt.
“Hay là chúng ta
tìm chỗ dừng chân tá túc trước đã?” tên trọc đầu Vương Lỗi
nói.
Chúng
tôi đã đi hết cả một buổi chiều, lại tiếp thêm leo núi từ chập tối đến
hơn nửa đêm, người hết chịu nổi. Bây giờ mà có được bữa cơm no rồi lăn
đùng ra chiếc giường sạch sẽ thì đó là thiên đường của chúng tôi bây
giờ.
Nhưng ngôi làng
lặng ngắt không một tiếng động, ngay cả bóng ma cũng chẳng tìm thấy,
nhà cửa đóng then cài lấy đâu ra nơi cho chúng tôi tá túc? Tôi muốn đến
sườn núi, nơi có ánh đèn chưa tắt, chắc họ cũng chưa đi ngủ… Thế là
việc kế tiếp của chúng tôi là phải tìm ra ngôi nhà nào có đèn còn sáng
gần chúng tôi nhất.
Những nhà như thế
cũng đang chờ chúng tôi đến tìm ngủ trọ! Chúng tôi đứng
trước cổng một ngôi nhà đèn đang sáng nhìn nhau rồi tôi đi lên gõ
cửa.
“Cốc cốc cốc”.
Tiếng gõ cửa trong đêm vắng nghe rất chối tai. Một
lát sau, bên trong nghe có tiếng bước chân, rồi lách cách mấy tiếng,
cánh cổng mở ra… Cả ba chúng tôi thụt lùi mấy bước, người ra mở cổng lộ
vẻ đầy hoài nghi.
Trong
cánh cửa có cô bé khoảng mười tuổi, tóc dài quần trắng. Mái tóc buông
xuống phủ kín hai má, đôi mắt lấp lánh sau mái tóc đen óng, đờ đẫn nhìn
ba chúng tôi. Tôi tin rằng, cô bé này không cần phải trang điểm, nếu cứ
thế mà đóng phim kinh dị thì rất đúng vai, còn phải trang điểm
gì!
Nửa đêm canh ba,
bất chợt trông thấy cô bé như thế thì dù gan có to đến mấy cũng phải
run chân đứng không vững.
Tôi
đánh bạo tiến lên mấy bước chần chừ hỏi: “Cô bé, cho hỏi ở trong làng
này có nơi nào có thể nghỉ qua đêm không?”. Vốn là muốn xin tá túc
trong nhà này nhưng trông cô bé hình thù quái dị, nên chúng tôi đành
đánh trống lảng, không dám xin nghỉ trọ nữa.
Cô
bé không đáp, không có cử chỉ nào biểu hiện phản ứng sau khi nghe tôi
hỏi. Đôi mắt như ánh lửa chớp chớp, rồi nó cúi mình sang một bên. Ánh
đèn từ sau lưng cô bé rọi tới, chúng tôi nhờ thế bạo dạn hơn, lúc đó,
có giọng nói đàn ông từ trong nhà vọng lại: “Có phải là ba người ngoài
làng đúng không?”.
Tôi
cả kinh, người trong kia không ra sao lại biết ba người chúng tôi từ
ngoài làng đến? Đợi đến khi người kia xuất hiện sau tấm cửa, chúng tôi
mới thở phào nhẹ người. Không ai khác mà đó chính là người đã dẫn chúng
tôi tới đây. “Sao các anh phải
khổ thế? Tội tình gì chứ?”. Gã mặt đen tiến tới trước mặt chúng tôi,
khuôn mặt tỏ ra tiếc nuối. “Nếu anh bán cho
tôi cái lọ NGŨ LIÊN đó thì việc gì chúng tôi phải khổ sở lặn lội đường
xa đến đây”. Tôi đáp. “Ư hừ… được rồi,
các anh đã đến thì trước tiên hãy vào nhà tôi nghỉ lại một đêm đã, sáng
mai tôi sẽ đưa các anh về”. Tên
đầu trọc Vương Lỗi và Đàm Xuyên hình như muốn tiến lên nói gì đó nhưng
thấy tôi đưa mắt ra hiệu là cả hai thôi không nói nữa. Gã mặt đen dẫn
chúng tôi đến một căn phòng, trong phòng chỉ có một cái giường và một
cái cửa sổ mở ra phía con đường lúc nãy chúng tôi đi đến đây. Mở cửa
ra, cả ba chúng tôi ngồi trên giường sáu mắt nhìn nhau. Trong vùng cực
kỳ hoang vắng hẻo lánh này, chỉ cần có chiếc giường là được rồi, cả ba
chúng tôi người to như con tượng, không thể nằm chung trên một chiếc
giường nhỏ này được, nhưng có giường để ngồi tựa mà ngủ cũng là lý
tưởng! “Ngày mai, ngày
mai các cậu thực sự dự định quay về chứ?” Tên nói năng ấp úng hỏi chúng
tôi. “Qua
đêm nay hẵng hay”. Tên đầu trọc không chút lo âu gì nói: “Đến sáng sớm
mai, chúng ta đi dạo trong vùng này xem sao, các ông mày đã đến đây rồi
chẳng lẽ lại về không!”. “Thế
thì chúng ta cứ thế mà làm, sáng sớm mai, ai đi đường nấy, tìm được cái
gì thì được, điều đó còn trông vào vận may của mỗi người, cả ba chúng
ta cùng nghề nhưng chỉ cần không ai chơi đểu ai là được”. Tôi nói với
hai gã kia. Cả hai tên kia
cũng gật đầu đồng ý, đã nói rõ rồi là không ai được làm chuyện lợi mình
hại người đâu đấy. “Anh nghe kìa,
tiếng gì vậy?”
Vương Lỗi bỗng
chau mày vểnh tai nghe!
Hắn
không nói tôi cũng nghe thấy âm thanh đó, âm thanh như thực như hư,
hình như có người đang khóc, nghe lại như có ai đang hát. Bạn có thể
cảm nhận được sự tồn tại của nó, nhưng bạn định thần để nghe kỹ thì âm
thanh đó lại như tan biến vào không gian… khiến bạn không thể nào phân
biệt đó là tiếng gì…