Wellcome
ngôi làng thứ 7
Tôi đứng dậy đi đến bên cửa sổ, âm thanh đó hình như nghe rõ hơn dưới
ánh trăng. Bỗng mắt tôi như căng lên, tôi dường như không tin vào mắt
mình nữa, cô bé vừa rồi mở cửa cho chúng tôi đang ngồi dưới ánh trăng
cầm chiếc lọ NGŨ LIÊN thì thầm điều gì như đang nói chuyện với chiếc lọ
vậy. Không nghe rõ nó nói gì nhưng trông rất rõ dáng vẻ của nó, nó nói
chuyện và đối đãi với chiếc bình như là trong đó có người vậy. Âm thanh
lúc thực lúc hư vừa rồi đích xác là do cô bé nói.
“Cô bé này làm cái
quái gì thế nhỉ?” . Tôi hỏi mình với tâm trạng đầy nghi ngờ.
Hai
cậu bạn kia chạy đến cửa sổ, lúc đó, cả gã mặt đen cũng đến bên cô bé
kia. Hắn lặng lẽ ngồi sau lưng nó, một lúc lâu mới đến gần vỗ vai nó.
Cô bé ngúng nguẩy đẩy tay gã mặt đen ra, hình như họ giận nhau điều
gì.
Gã mặt đen trầm
ngâm một hồi, không vỗ vai cô bé nữa, quay mình trở lại phòng.
“Các cậu đã trông
thấy rõ ràng cả rồi
chứ?”
Cửa
phòng chúng tôi tự nhiên mở toang ra, gã mặt đen không biết đến cửa
phòng từ lúc nào, mặt gã ủ rũ nhìn chúng tôi bảo: “Các cậu cứ ngủ đi,
trời sắp sáng rồi đó, ngày mai các cậu còn phải đi một chặng đường dài
nữa đó”.
“Cô bé kia là ai?
Có phải con gái anh không? Hình như nó đang giận anh thì phải”. Vương
Lỗi cười hỏi bắt chuyện.
“Nó
là con gái tôi, người trong làng đều gọi nó là Tiểu Cúc. Ba năm trước,
mẹ nó lên núi hái thuốc, bị ngã chết, sau cú sốc nặng nề đó, tâm lý nó
đã thay đổi hẳn, nó không thèm nói chuyện với ai nữa, trừ chiếc lọ đựng
hồn kia”. Gã mặt đen đáp.
“Có phải vì thế mà
anh không chịu bán chiếc lọ đó cho chúng tôi?” Tôi hỏi.
Gã mặt đen gật đầu
đáp:
“Tiểu
Cúc suốt ngày mê mẩn chiếc lọ đó, nên tôi cứ đi đâu thì thường mang
theo chiếc lọ, như thế thì Tiểu Cúc mới chơi đùa như những đứa trẻ
khác. Nhưng hễ cứ thấy chiếc lọ, nó liền nói chuyện với linh hồn mẹ nó,
làm như thể có người trong đó mà chỉ nó mới nhìn thấy.”
Gã
mặt đen nói với giọng sa sầm, mới nghe tôi đã sởn hết cả gai ốc, bên
kia, hai anh em cũng không hề động đậy. Gã mặt đen do dự chốc lát, hình
như hắn đang nghĩ điều đó, nhưng hắn không nói gì thêm, quay đầu đi
thẳng.
Hai tên kia
ngồi trên giường, lưng tựa vào vách, chốc chốc lại ngáy khò khò. Tôi
cũng buồn ngủ không kém nhưng không thể nào ngủ được. Không biết bao
lâu sau tôi mới nhổm dậy tìm thuốc hút, vô tình đến bên cửa sổ, không
thấy cô bé ngoài kia nữa, chỉ còn chiếc lọ nằm ngoài sân.
Tôi
thoáng nghĩ, có chút căng thẳng và ngoái đầu lại nhìn hai tên kia, một
tên ngủ chảy cả nước dãi, tên còn lại cứ chép chép mồm liên tục, chắc
hắn mơ đang ăn thứ gì đó! Tôi khẽ khàng mở cửa, nhẹ như con mèo rình
mồi, lách ra khỏi cửa, cúi xuống nhặt chiếc lọ lên.
Nhịp
tim tôi bỗng tăng nhanh, nhưng hơi thở có lúc như ngừng lại. Cầm chiếc
lọ đựng hồn trong tay, kinh nghiệm bản thân cho biết chắc chắn đó là
chiếc bình cổ, nhưng tạm thời tôi vẫn chưa xác định được niên đại của
nó. Tôi lật đi lật lại xem từng chi tiết trên chiếc bình, quên cả đề
phòng có hai bóng người từ từ đi đến.
Tôi
đột ngột phát hiện liền quay người định lẩn đi. Bỗng khắp mình lạnh
toát, tôi không thể đứng vững được nữa, cả chiếc lọ trong tay cũng rơi
xuống đất từ lúc nào không hay.
Sau
lưng tôi có hai người nữ, cô nhỏ là Tiểu Cúc, còn bên cô bé là một phụ
nữ trung niên, mái tóc rất dài, rối tung như tơ vò phủ lên chiếc hộp
sọ, mình mặc chiếc áo dài đỏ, trong chiếc làn trên tay bà ta hình như
có nước, không phải! Không biết thứ gì nhưng đó là một chất lỏng màu đỏ
thẫm đang rỉ từng giọt xuống nền đất.
Người
phụ nữ trung niên đó cầm tay cô bé, hai người hình như rất thân thiện
với nhau. Cả hai đều đứng sau lưng tôi, sắc mặt không có chút biểu lộ
gì cả, giống như hai pho tượng. Bỗng tôi nghe cô bé gọi hai tiếng, đầu
tôi như vỡ ra. Quả thực tôi nghe cô bé gọi “ma ma”. Người phụ nữ đó nắm
chặt tay cô bé, cô bé mặc chiếc váy trắng, bỗng chốc dính đầy máu đỏ,
lúc đó không nghi ngờ gì nữa, chắc chắn trên mình người phụ nữ trung
niên kia đang chảy máu. Đầu tôi cứ kêu lên ong ong, trong khoảng thời
gian ngắn ngủi đó, tôi đã bị sốc - không ai có thể chịu đựng sự kích
thích như thế - nửa đêm canh ba bỗng xuất hiện trước mặt một thi thể
phụ nữ đầy máu, hơn nữa người phụ nữ đó lại là mẹ cô bé kia! Nhớ lại
lúc nãy gã mặt đen bảo, ba tháng trước, vợ hắn đã chết vì bị ngã khi
lên núi hái thuốc. Sau đó, cô bé chỉ nói chuyện với chiếc bình, nó xác
định là mẹ nó đang ở trong chiếc bình kia. Không biết thực hay mơ, tôi
cũng không xác định được liệu gã mặt đen kia có nói thật với tôi về
chuyện này hay không. Nhưng quả thực đây là một pha sốc lớn nhất trong
đời tôi. Khi chưa xác định được hư thực thế nào thì dù sao sự xuất hiện
của phụ nữ nhuốm máu đó cũng làm tôi khiếp hãi đến vỡ mật.
Chiếc áo dấy máu
đó chắc phải nhuộm máu mới như thế. Nếu là máu thực thì từ đâu ra? Sao
phải làm thế?
Tôi
không đủ can đảm để suy luận việc này, nhưng trong lúc sợ hãi đến tột
đỉnh người ta thường có những phản ứng mà chính bản thân mình cũng
không biết. Đối diện với hai người kỳ lạ đó, tôi đã có một quyết định
mà tôi nghĩ mười người thì hết mười một người sẽ làm như tôi, đó là
tháo chạy như điên theo những con đường nhỏ trong làng. Ký ức cuối cùng
là tôi đã ngã lăn nhào, đầu bị đập xuống đất, sau đó tôi không còn nhớ
gì nữa.Ánh
mặt trời buổi sáng chiếu lên mặt làm chói mắt khiến tôi tỉnh dậy. Tôi
đưa tay lên làm gối, rồi từ từ ngồi dậy. Đầu đau như búa bổ, ký ức hôm
qua từ từ tua lại trong đầu bỗng thấy sợ - cô gái nói chuyện với chiếc
lọ rồi chuyện người người phụ nữ xuất hiện với áo quần be bét máu… Nhớ
lại chuyện hôm qua, tôi cho đó chỉ là một cơn ác mộng, không có gì phải
sợ nữa, vì nó chỉ là hư ảo. Nhưng nếu đó không phải là chuyện thực thì
tại sao bây giờ tôi lại đang nằm trên ruộng lúa? Tôi còn nhớ rõ là mình
đã tháo chạy như ma đuổi, cứ hết con đường nhỏ này lại ngoặt sang con
đường khác, không còn biết lựa đường mà chạy nữa, cuối cùng tôi đã ngã
xuống bất tỉnh, nếu không có hai mẹ con nhà kia xuất hiện thì tại sao
tôi phải chạy?
Ngôi làng nằm cuối
ruộng lúa, chỉ cần tôi về nhà hỏi gã mặt đen thì mọi
chuyện sẽ rõ. Còn nữa, hai gã Vương Lỗi và Đàm Xuyên tối hôm qua cũng
ngủ trong nhà hắn, không biết giờ đã ra sao rồi. Chắc là chúng đã đi
quanh làng để truy lùng cổ vật.
Bất luận thế nào,
trước tiên phải quay về làng đã.
Tôi đứng dậy bước
đi, đôi chân còn nhức mỏi, không biết đêm qua thế nào
mà hai cánh tay cứng đơ không cử động được, đi một lát dưới ánh bình
minh mới phục hồi trở lại. Lúc đó, tôi đã đến cổng làng. Trong làng vẫn
im ắng, không có chút động tĩnh gì. Bỗng tôi có một cảm giác kỳ quái -
trong ngôi làng này giờ không có người nào, ngoài tôi ra! Tôi ngẩng đầu
nhìn mặt trời chói lóa, điều an ủi tôi duy nhất lúc này là hãy nghĩ
rằng, tất cả mọi chuyện đã xảy ra chỉ là ảo giác. Tối qua, tôi còn ở
trong làng này, gã mặt đen và cô con gái của hắn nữa cơ mà, còn có cả
người vợ đã chết rồi của hắn! Sao nay lại chẳng thấy bóng ma nào thế?
Để xua đi nỗi bất an trong lòng, tôi tiếp tục tiến vào trong
làng.
Trong làng yên
tĩnh đến lạ thường, trên con đường, không những tôi
chẳng thấy ma nào mà ngay cả nhà cửa vẫn như hôm qua, vẫn đóng im ỉm.
Để tự xoa dịu mình, tôi nghĩ, người trong làng này đóng chặt cửa lại là
để thăm dò người lạ mặt đến từ xứ khác là tôi. Nhưng sự im lặng quá mức
đó khiến tôi có cảm giác như đang nằm mơ giữa ban ngày.
Men theo con đường
làng nhỏ hẹp, cuối cùng cũng tìm đến được ngôi nhà
mà hôm qua tôi đã dừng chân, vừa đến nhà, tôi đã nhìn thấy chiếc bình
NGŨ LIÊN đang nằm nghiêng ngửa trước cửa nhà cách tôi không xa. Hình
như từ khi tôi đánh rơi nó tối qua đến giờ vẫn chưa ai đụng
vào!
Tôi vội chạy đến
nhặt chiếc bình lên, cũng chính vì chiếc bình quỷ quái
này mà tôi đến ngôi làng này, nay tôi mới hối hận, nếu có thể, tôi bằng
lòng từ giã ngôi làng này ngay lập tức, đương nhiên, tốt nhất là cuỗm
theo luôn chiếc bình này!
Tôi gõ cửa, vừa
đẩy cửa đã mở ra, tôi do dự một lát rồi vẫn cứ vào nhà.
Mỗi căn phòng tôi
đều tìm một lượt nhưng không thấy người nào. Căn
phòng mà tối qua tôi và hai gã đồng nghiệp đã xin tá túc cũng nguyên xi
như cũ, hai gã kia cũng không thấy đâu, tôi nghi rằng chúng đã bị gã
mặt đen đuổi đi.
Ra khỏi nhà gã mặt
đen, lòng tôi bỗng thấy nặng nề, một dự cảm báo cho
biết sẽ có chuyện không hay xảy ra đến với tôi.
Người trong làng
này đi đâu cả rồi nhỉ? Tôi tự hỏi.
Tôi lẹ rảo bước
sang nhà khác, đẩy cửa, quả nhiên không nhà nào đóng
cửa, mới đẩy nhẹ cửa đã mở toang ra. Tôi đi vào như vào nhà mình, tìm
khắp, chẳng thấy có ma nào!
Vừa giận vừa sợ,
tôi tháo chạy, lại tìm đến nhà khác.
Cứ thế tiêu mất
của tôi hơn giờ đồng hồ, cuối cùng tôi ngã gục trên một
ruộng lúa ngay ở giữa của ngôi làng này.
Ngôi làng khá nhỏ,
chỉ khoảng vài chục hộ dân, hầu như nhà nào tôi cũng
tìm một lượt, nhưng nhà nào cũng không thấy một bóng người. Cả ngôi
làng, trừ tôi ra, không thể tìm thấy một bóng người nào khác. Chẳng lẽ
người trong làng này đều chết hết cả rồi sao, mới chỉ nghĩ như thế tôi
đã rùng mình!
Vương Lỗi và Đàm
Xuyên đâu? Tối qua họ đã gặp những chuyện quỷ quái gì?
Giờ họ có bình an không?
Bất chợt tôi nhảy
dựng lên, chạy đến cổng làng, ngôi làng này quả thực
quá quái quỷ, không thể ở lâu trong ngôi làng này được. Giờ thì tôi đã
tìm thấy cái mà tôi cần tìm, tốt nhất là nên chạy đi, càng xa càng
nhanh càng tốt. Hơn nữa, bây giờ là mười hai giờ trưa, nếu thuận lợi,
thì tôi sẽ đến được thị trấn trước khi trời tối.
Rời xa ngôi làng
này ngay, ngôi làng quái quỷ này không còn quan hệ gì
với tôi nữa.
Trước khi đi, tôi
còn mang theo cả chiếc bình đựng hồn người kia nữa.
Có nó trong tay, chuyến đi này xem như đã thành công mỹ mãn. Rời làng,
phải băng qua cánh đồng lau sậy, khi đến tôi đã đi theo con đường này.
Nhưng còn cách cánh đồng khoảng hơn mười mét, tôi dừng lại. Trước mặt,
bên ruộng lúa, có một người đứng sẵn, trên đầu đội mặt nạ to đùng,
chiếc mặt nạ có hình thù trừu tượng, kỳ quái, nhưng cũng có thể hình
dung ra đó là hình thù của một con dê. Trên mình mặc chiếc áo choàng
trắng, hai tay duỗi thẳng, hai chân rời đất khoảng một thước. Không ai
có thể đứng cách mặt đất, trừ phi đó là người nộm bằng cỏ. Quả đúng
không sai, người đứng trước mắt tôi là một hình nộm bằng rơm, tối qua,
khi đến làng này tôi đã có nhìn thấy. Chỉ có điều không biết tại sao
hôm nay nó lại nằm ngay trên đường đi.
Tôi nhìn quanh,
ruộng lúa mênh mông không thấy bờ, đằng xa tít bên kia
hình như cũng có hai người nộm bằng rơm nữa. Tôi cẩn thận đi lên, rồi
từ từ rảo quanh người nộm, đang định đi tiếp thì bỗng sau lưng có gì
đang cử động, hình như còn có cả tiếng dế trong chiếc hình nộm đó nữa.
Quay đầu nhìn lại, tôi chỉ thấy bóng hình người nộm!
Kỳ quái! Nhìn
xuống chân người nộm, tôi thấy có một chiếc gậy gỗ, chiếc
gậy đang rỉ máu xuống. Tôi giật thót, người như khựng lại, định thần
nhìn kỹ, quả nhiên không sai, người nộm bằng rơm đang chảy máu! Người
nộm gắn chặt trên chữ thập, lúc đó, máu từ chân người nộm chảy tràn ra
cả mặt đất, khắp một mảng đất rộng bị máu thấm ướt, vì màu đất tối nên
vừa rồi tôi không để ý. Tôi nghe tiếng thở hổn hển của mình, đôi chân
cũng đang run lên bần bật. Tôi có thể rời ngôi làng này cho dù người
nộm đó có chảy nhiều máu hơn nữa, nhưng tôi vẫn còn hiếu kỳ, tôi biết,
đó chỉ là máu giả do người khác tạo ra, vậy đằng sau người nộm đó chắc
chắn phải có người thật đang ẩn mình. Hắn là ai? Tính mạng hắn đang
ngàn cân treo sợi tóc, thế ai đã buộc người thật làm giả thành người
nộm?
Tôi lẩm bẩm, từ từ
tiến lại gần người nộm kia, đôi tay run run đưa lên
lấy chiếc mặt nạ kia xuống. Đó là tên đầu trọc Vương Lỗi.
Hắn vẫn còn sống
nhưng không sao cử động được, đôi mắt hắn mở to nhưng
có vẻ đã mất hết sức sống, môi mấp máy, hình như hắn muốn nói với tôi
điều gì, nhưng hắn yếu đến nỗi không nói thành lời.
Nỗi kinh ngạc lúc
đầu đã qua, nhưng điều mà tôi lo lắng đã trở thành
hiện thực. Nếu không gặp Vương Lỗi thì tất cả những hiện tượng quái dị,
đằng sau nó ẩn chứa điều gì bí mật đều chỉ được trả lời bằng suy đoán
của tôi. Nay, chúng đã lộ nguyên hình. Ngôi làng ẩn mình sau rừng sâu
núi thẳm này quả nhiên là cạm bẫy đầy nguy hiểm, chết chóc.
Tôi từ từ cởi trói
cho Vương Lỗi, sau khi hắn nằm xuống đất, tôi mở nốt
chiếc áo choàng cho hắn, trên tay chân hắn, mỗi nơi đều có vết dao, máu
tươi chính là máu thực chảy ra từ người hắn. Vương Lỗi không nói được
lời nào, nhưng đôi mắt ứa lệ, trên khuôn mặt đầy nỗi khiếp hãi và có
chút hy vọng gì đó. Tôi biết hắn sợ tôi bỏ rơi hắn, hy vọng tôi có thể
mang hắn trốn khỏi ngôi làng này.
Nhưng lúc này nếu
cứ ở lại đây càng lâu thì càng nguy hiểm, hơn nữa,
tôi không biết kẻ nào đã hại hắn ra nông nỗi này. Nên lựa chọn tốt nhất
bây giờ của tôi là bỏ rơi hắn, một mình trốn đi, còn nếu cứ cố mang
theo một người đã kiệt hết sức, lúc gặp chuyện không những không bảo vệ
được hắn mà ngay bản thân cũng khó vẹn toàn.
Tôi phải chọn
nhanh một trong hai quyết định, cuối cùng tôi thở dài
than vãn rồi cõng Vương Lỗi lên chạy. Hôm qua, cả hắn cùng Đàm Xuyên ở
với nhau, không biết tối hôm qua họ gặp phải chuyện gì mà Vương Lỗi đến
nước này, từ đó đoán chắc rằng tình cảnh của Đàm Xuyên cũng chẳng hơn
gì đâu!
Nếu kẻ hãm hại Đàm
Xuyên và Vương Lỗi rắp tâm sắp đặt như thế này, thì
hắn khó lòng để tôi toàn mạng mà về được. Lúc này, e rằng chúng đang
rình theo tôi rồi cũng nên, nếu tôi cứ tiếp tục đi trong ruộng lúa thì
không biết mối hiểm họa chết người sẽ chờ tôi ở điểm nào đây!
Đương nhiên tôi
cũng không thể để chúng muốn làm gì thì làm mà không
chống cự, trong tôi cũng đang có một bí mật, không đến lúc dầu sôi lửa
bỏng thì tôi quyết không để người khác biết được. Cho nên, tôi quyết
định trở lại ngôi làng kia, điều tra rõ tất cả mọi chuyện, xem thử
chuyến này có hy vọng nào không để cứu Đàm Xuyên - người hiện nay đang
không biết thất lạc ở đâu. Chính vào lúc đó, tôi bỗng bị một cú đánh
mạnh vào đầu, trời xoay đất chuyển, cả thế giới như quay tròn... tôi
ngất đi, Vương Lỗi trên lưng tôi cũng ngã lăn nhào theo. Trong mê loạn,
tôi thấy tên Vương Lỗi vốn đang nằm yên bỗng cử động, rồi hắn vùng dậy
ngồi, trong mơ hồ, tôi thấy khuôn mặt hắn hung tợn kinh khủng!
“Anh ạ, xin lỗi
nhé, chúng bảo nếu không đánh ngã anh thì chúng sẽ
không buông tha cho em”. Hắn nói.
Tôi hoàn toàn
tuyệt vọng, nghĩ rằng đời mình sẽ kết thúc tại đây.
Nghĩ rồi tôi rơi vào hôn mê bất tỉnh.Trong
cơn mê, tôi mơ hồ cảm thấy hình như có rất nhiều người xuất hiện, tay
chân tôi bị buộc chặt, treo ngang trên một chiếc đòn, hai bên có hai
người khiêng, mình tôi lắc lư theo nhịp chân họ.
Lắc lư mãi rồi tôi
tỉnh lại, cố mở to mắt nhìn qua kẽ hở, chỉ nhìn thấy
người đang khiêng sau tôi, hắn mặc chiếc áo choàng màu đen, trên mặt
đeo chiếc mặt nạ hình đầu trâu. Lúc đó tay chân tôi đã bị buộc chặt vào
đòn khiêng, giống hệt như con lợn béo đang chở đi mổ thịt!
Tôi không dám cử
động gì, cứ giả vờ đang ngất. Cứ thế họ khiêng tôi đi
khoảng hai mươi phút. Lúc dừng lại, tôi bị họ thả rơi tõm xuống đất,
tôi nheo mắt lại nhìn, bốn bề là đồng lúa xanh rờn, còn có rất nhiều
bàn chân, có chân để trần, có chân còn tục bó chân, không cần nhìn mặt
họ tôi cũng biết đó là dân chúng trong làng, lúc sáng, tôi ngạc nhiên
tại sao trong làng không có ai, hóa ra họ đều đến tụ tập ở đây. Đây là
đâu? Tôi cố giương to đôi mắt, nhanh chóng phát hiện ra đây là vùng
trung tâm của đồng ruộng, tức là tôi đang nằm trong cánh đồng mênh mông
đó. Quả nhiên trong cánh đồng có một vùng đất khá rộng. Những người
sống bằng nghề trồng hoa màu, họ quý đất hơn quý mạng sống của mình,
tại sao họ lại chừa ra một khoảng trống lớn như thế giữa đồng
được?
Tôi vẫn giả vờ hôn
mê bất tỉnh, một gáo nước tạt vào mặt tôi, nếu không
mở mắt, quả thực tôi không thể chịu nổi cái cách họ làm để tôi tỉnh lại
này. Tôi từ từ đứng dậy, như thế tôi mới thấy rõ hơn. Lúc đó, tôi phát
hiện vùng trống trong ruộng lúa có hình tròn, xung quanh treo đầy cung
tên, dân làng trai có gái có, trẻ có già có đứng đông nghịt, tay chân
da thịt thô ráp đen trũi. Ở trung tâm của khoảng đất trống đó đặt một
tảng đá lớn, cao ngất như một ngôi nhà hai tầng, trông hệt như một trái
núi nhỏ. Tôi nghĩ bụng, có lẽ việc dân làng chừa lại khoảng đất này có
liên quan đến tảng đá, bởi vì trên tảng đá đó tôi thấy có hình vẽ quen
quen. Dưới hình mặt người được vẽ cách điệu có hai đường vẽ, phần cuối
đường vẽ có hình tam giác ngược, trên mặt nó có nhiều cây cỏ rậm
rạp.
Lần đầu tiên tôi
thấy hình vẽ này trên chiếc bình Ngũ Liên của gã mặt
đen. Trước tảng đá có ba chiếc giá hình chữ thập, trong đó có một chiếc
đang trói một người, chính là Đàm Xuyên. Lúc đó tôi hãi quá hình như
không giữ được tỉnh táo nữa. Hắn bị trói trần trên giá, chỉ chừa lại
chiếc quần nhỏ sát người, hai tay bị trói dang ra theo cọc ngang trên
cái giá chữ thập, thoạt nhìn giống như chúa Giê-su bị nạn. Trong khi bị
trói, cả hai tay hai chân gã cũng bị như Vương Lỗi, đều bị đâm thủng
mấy vết, máu tươi đang từ từ rỏ xuống. Trên một trong hai cái giá còn
lại, dân làng đang treo tên Vương Lỗi lên, một lúc sau cả hai tên Vương
Lỗi và Đàm Xuyên đều bị trói chặt cứng hệt như nhau, chỉ khác nhau một
điều là cái đầu trọc của Vương Lỗi bóng như tấm kính dưới ánh mặt
trời.
Cả hai tên này bị
trói hai bên, cách trói giống hệt nhau, trông giống
như hai con chó bị chọc tiết rồi trói lên! Giữa hai chiếc giá còn một
cái để không, không cần nói cũng biết chắc đó là chiếc giá chuẩn bị
trói tôi. Tôi biết, một khi đã bị trói như hai tên kia có nghĩa là tôi
sẽ hết cơ hội.
Lúc đó, từ phía
bên ngoài vòng vây đang vây tròn quanh chúng tôi đi đến
ba người mà tôi đã biết, đó là gã mặt đen, con gái hắn và vợ hắn. Cách
ăn mặc của họ không giống với cách ăn mặc của dân trong làng, gã mặt
đen mang chiếc tay nải màu đen, hai người còn lại để tóc xõa bù xù
xuống chiếc áo choàng trắng, hai màu đen tóc áo trắng đối nhau chan
chát. Gã mặt đen lại gần tôi, vợ hắn cũng theo sát sau chồng.
“Rốt cục các người
muốn làm gì chúng tôi đây?”
Tôi gào to. Gã mặt
đen nhìn tôi với vẻ tiếc nuối: “Tôi đã nói rồi, việc
gì anh phải khổ sở theo chúng tôi?”
Tôi định nói tiếp,
gã mặt đen liền vẫy vẫy tay, lập tức có hai tên mang
mặt nạ tiến đến, mang tôi trói lên chiếc giá nằm giữa. Lúc đó, tôi định
thần bất động, tập trung hết sức lên hai cánh tay. Dân làng đang chuẩn
bị trói tôi lên chiếc giá ở giữa, trước hết họ phải gỡ dây trói rồi mới
buộc lên, tôi chờ đợi cơ hội này. Khi họ dang hai tay tôi ra, tôi đột
ngột tung tay lên, đẩy hai tên mang mặt nạ đang khiêng tôi sang hai
bên. Lúc đó, đám người vây xem nhốn nháo cả lên, mấy tên đeo mặt nạ
khác đồng loạt nhảy vồ vào tôi, đột nhiên tôi hô to lên: “Khoan, hãy
đợi đã”. Gã mặt đen không có biểu hiện gì, hắn vẫy vẫy tay, những người
có mang mặt nạ cứ tiến lên vây tròn lấy tôi, không đánh nữa. “Các người
đông như thế, thì tôi có cánh cũng khó mà bay được, vậy tại sao các
người không cho tôi hoàn thành tâm nguyện cuối cùng?” Tôi nói với gã
mặt đen.
Gã mặt đen trầm
ngâm một hồi, cuối cùng hắn cũng gật đầu đồng ý. “Mày
muốn gì cứ nói đi”.
“Tại sao chúng mày
muốn trói bọn tao lên cái giá đó? Có phải bọn mày
đang tiến hành nghi lễ gì đó không?”
“Mày đã biết sao
còn hỏi? Dân làng tao sống bằng nghề trồng trọt, đất
đai cho chúng tao sự sống, che chở chúng tao, chúng tao sinh sống trên
đất, nên cứ mỗi năm vào mùa hè tức là trước vụ thu hoạch mùa thu, người
dân ở đây phải tiến hành nghi lễ tế thần như thế này đây”.
“Hiện nay, rất
nhiều vùng đất vẫn còn tập tục này, nhưng tại sao các
người nhất định phải trói bọn ta lên giá đó mới được?”
Hắn trầm ngâm hồi
lâu rồi đáp: “Các người là vật hy sinh, là cúng phẩm
của bọn ta cho thần nông”.
Tôi đã đoán trước
được điều này, nhưng nghe tên này khẳng định lại thế
tôi vẫn thấy rùng mình, mất hết cả hy vọng.
Hắn tiếp: “Các
người đã nhìn thấy hình vẽ trên tảng đá đó, đó chính là
vị thần nông mà chúng tôi tôn thờ. Người cũng như thần thánh, đều sống
nhờ vào đất, nên vật hy sinh làm cống phẩm của chúng tôi sẽ phải là sự
trở lại vào lòng đất mẹ của các ngươi”.
Lúc này tôi mới
biết hàm nghĩa của những hình vẽ đó, hóa ra ý nghĩa của
nó muốn nói là sự hồi sinh từ lòng đất.
“Ngày tế thần nông
mỗi năm là ngày lễ quan trọng nhất, bọn tao tin chắc
rằng khi nào lấy người sống làm vật phẩm tế lễ, dùng máu tươi của người
sống để tưới lên mặt đất, lấy thi thể người làm phân bón thì khi đó mới
bảo đảm cho vụ gặt hái thành công trong mùa thu”.
Nghe hắn nói, tôi
thấy quen quen, hình như tôi đã nghe câu chuyện tế lễ
thần nông trong truyền thuyết.
Nghe hắn nói, tôi
thấy chẳng lạnh mà người cứ run. Tôi tưởng tượng khi
máu tươi chúng tôi tưới đỏ lên ruộng, thi thể chúng tôi làm phân bón
cho lúa, thi thể từ từ rữa nát dưới gốc mạ non, nông dân trong vùng sẽ
bận rộn bên xác chết chúng tôi để khẩn cầu thần nông ban ân mưa thuận
gió hòa mùa màng bội thu.
Hóa ra đó là tất
cả bí mật của ngôi làng này!
“Mày đã hiểu rõ
chưa hả?” Gã mặt đen hỏi
“Tao còn muốn biết
một điều nữa”. Tôi hít hơi thật sâu, trong giọng nói
đã nghe thấy sự bi thương. “Cống phẩm làm vật hy sinh cho bọn ngươi
dâng lên thần nông là bọn tao, nhưng bọn tao là người vùng khác đến,
thế thì có ý nghĩa gì nữa đâu?”
“Bọn tao không chủ
ý tìm bất kỳ ai ra làm tế phẩm cả, cũng giống như
các ngươi”. Gã mặt đen kia bảo: “Vì trong lòng các ngươi có tham niệm,
cho nên bọn tao đã lợi dụng điểm này để dụ bọn mày đến đây”.
“Vậy chiếc bình
đựng hồn kia là mồi?”
“Đúng vậy, khi mày
mua nấm khô của tao, tao đã biết cái mà mày mua là
cái bình Ngũ Liên này chứ không phải là nấm khô. Chiếc bình này nếu
mang ra các thành phố lớn sẽ đổi được rất nhiều tiền, để chiếm được nó
bọn mày mới tìm đến làng bọn tao, cuối cùng bọn mày phải trả cái giá
này”.
Hắn quay đầu lại
chỉ hai tên Vương Lỗi và Đàm Xuyên bảo: “Hai tên kia
cũng như mày, vì kiếm tiền, vì phát tài mà bất chấp tất cả”.
Ánh mắt gã mặt đen
hướng về phía chiếc bình, gã nói:
“Thực ra, chiếc
bình đựng hồn người này là pháp khí quan trọng nhất
trong buổi tế lễ này, nó được dùng để đựng hồn người chết trong các
buổi tế lễ thần nông, sao tao có thể dễ dàng bán cho chúng mày
được?”
Tôi thầm than
trách, lòng tham là cội nguồn của mọi tội lỗi, nhưng đồng
thời nó là khởi điểm của sự sống, không ngờ rằng, chiếc bình đựng hồn
người là sự đeo đuổi và cũng là vật hấp dẫn đưa đường chỉ lối chúng tôi
đến đây, nhưng cuối cùng chúng tôi lại phải chết vì cái bình đó, hơn
nữa linh hồn chúng tôi sẽ bị nhốt trong cái bình kia, quả thực là một
sự mỉa mai!
Tôi liếc nhìn hai
người nữ sau lưng gã mặt đen, lắc đầu nói: “Tối hôm
qua mày nói với bọn tao, con gái mày chỉ biết nói chuyện với chiếc bình
kia, vì nó tin chắc rằng, mẹ nó đang sống trong chiếc bình kia, hóa ra
tất cả điều bọn mày nói đều là lừa dối, láo toét!”
Gã mặt đen cũng
nhìn theo ánh mắt tôi, nhìn theo hai mẹ con - vợ và con
gái của mình, bỗng ánh mắt hắn hình như hiền dịu gần gũi hơn.
“Tục lệ trong bộ
lạc bọn tao quy định, vật hy sinh để tế lễ trong ngày
giỗ hàng năm phải là người ngoài làng, mỗi nhà có nhiệm vụ đi tìm người
để tế, cứ hết nhà này đến nhà khác luân phiên thay nhau tìm. Năm nay
đến lượt nhà tao phải tìm cho ra vài người. Nhất định tao phải để cho
vợ và con gái tao có việc mà làm nên tao đã bịa chuyện để lừa bọn mày.
Nếu không vì việc đó làm sao mày bỏ trốn? Phải biết rằng, chúng tao
không thèm để ý đến bọn ngoài làng như bọn mày, nhưng một lúc để tao
ứng phó với cả ba người chúng mày quả là chuyện không dễ”.
Gã mặt đen thở dài
rồi nói:
“Được rồi! Đã sắp
đến giờ rồi, tao nghĩ mày đã hiểu rõ nguyên nhân,
chắc chắn chết cũng không hối hận!”
Hắn vẫy tay, hai
gã đeo mặt nạ thủ thế lao đến.
“Khoan đã, khoan
đã!” Tôi lại la lớn lần nữa: “Tao có câu hỏi cuối
cùng, bây giờ tao chưa muốn chết, cũng không muốn trở thành vật hy sinh
cho chúng mày, nên bọn mày không thể trói tao được”.
Gã mặt đen nhìn
tôi với thái độ khó hiểu, hình như hắn không hiểu tại
sao tôi lại nói thế, hắn cho rằng tôi là một người rất kỳ
quái.
“Chẳng lẽ mày nghĩ
rằng mày còn có lựa chọn nào khác?”
“Đương
nhiên”.
Tôi giương mắt lên
cười như điên, bỗng nhiên trong tay tôi có thêm một
khẩu súng.“Quả
không sai chút nào, tao đã lừa bọn mày, tao không phải là người buôn đồ
cổ, tao là cảnh sát. Mùa hè năm ngoái, tao nhận được điện của người
bạn, chính người bạn gọi điện cho tao mới là người buôn đồ cổ, nó xây
nhà được là vì nó đã mua được chiếc bát cổ khi vào ăn phở trong quán lá
ở một huyện lỵ nhỏ rồi mua nốt chiếc bát cổ mà ông chủ quán đựng thức
ăn cho hắn, ông chủ quán không ngờ chiếc bát mà hắn mua là cái bát cổ
được làm từ thời Nguyên. Lần điện thoại đó, hắn gọi và bảo tao hắn đang
ở trong thị trấn nhỏ của một huyện vùng Tây Nam Trung Quốc. Hắn bảo
chiếc bát đó hắn gạ mua nhưng ông chủ nhất định không bán nên bạn tao
mới đi theo hắn, vì người bạn đó của tao nghĩ rằng, nếu đến quê của
người chủ chắc chắn sẽ có thu hoạch...
Sau cuộc điện
thoại đó, hắn bặt vô âm tín.
Nếu người bạn kia
của tao cũng là người bình thường thì tao việc gì
phải lặn lội đường sá xa xôi để đến vùng hẻo lánh chết tiệt này làm gì.
Tao với hắn không những là đồng nghiệp mà hắn còn giới thiệu em gái hắn
cho tao nữa. Nghiêm túc mà nói, hắn còn là anh vợ của tao nữa. Bất luận
là về cả công chuyện riêng tao cũng phải có nhiệm vụ đến đây. Đương
nhiên trước khi đến đây tao đã chuẩn bị chu đáo cả rồi. Trước khi đến,
tao còn tìm hiểu tập tục của người dân ở đây với một giáo sư dân tộc
học đức cao vọng trọng, tao không quên hỏi những vấn đề có liên quan
đến chiếc bình đựng hồn người Ngũ Liên kia cũng như ý nghĩa những hình
vẽ trên đó. Người bạn mất tích của tao đó còn nói cho tao biết về hình
dáng của chiếc bình Ngũ Liên và những gì có liên quan.
Sau khi tra kỹ về
ý nghĩa các hoa văn trang trí trên chiếc bình, ông
giáo sư mới giảng giải cho tao, thực ra đó là tôtem của một nhóm người
vùng xa vùng sâu, nó biểu thị ý nghĩa đất là cội nguồn của con người.
Nhưng ngay vị giáo sư dân tộc học đó cũng không biết nghi thức tế lễ
phải dùng người để tế sống quỷ thần. Thế là tao đến ngay ngôi làng
chúng mày, nơi thằng bạn tao mất tích. Trong phiên chợ hôm nọ tao nghe
mày có nói về chiếc bình đựng hồn người này...
Tao cũng như bạn
tao, cũng theo chúng mày về đến tận làng chúng mày.
Nay chân tướng sự việc đã bại lộ, người bạn đồng nghiệp của tao đã làm
vật hy sinh cúng quỷ thần cho bọn mày, máu tươi đã tưới đất này, xương
thịt cũng làm phân cho đất này.
Công việc mà tao
phải làm bây giờ là phơi bày chân tướng của bí mật
này.”
Dân làng ở đây
không phải là bọn man di độc địa, họ làm việc đó chẳng
qua là do tập tục người xưa truyền lại mà thôi, hơn nữa, suốt cuộc đời
họ sống trên mảnh đất này, nên tất cả những gì có liên quan đến vùng
đất họ sống đều tin tưởng khắc cốt ghi tâm, không bao giờ hoài nghi
những gì người xưa để lại. Chính vì thế mà khi tôi bắn phát súng lên
trời cảnh cáo, những người dân làng đã sợ đến ngẩn người, đại đa số dân
chúng trong làng đã quỳ xuống trong vô ý thức.
Nhưng gã mặt đen
và mấy tên mang mặt nạ vẫn vây lấy tôi. Trong tình
hình đó, nếu tôi muốn vượt vòng vây mà không gây thương tổn cho người
xung quanh là điều không thể, hơn nữa gã mặt đen là người tấn công đầu
tiên vào tôi.
Một tiếng súng
nữa, gã mặt đen ôm ngực, lảo đảo bước lên trước mấy bước
rồi gục xuống. Mấy tên đeo mặt nạ kinh hoảng, từng đứa một tản ra hai
bên, tôi lợi dụng bọn chúng trong lúc giãn ra để hở một lối nhỏ, thế là
lập tức như con sóc tôi nhảy chuồn vào ruộng lúa. Là cảnh sát, tôi
không được phép để hai tên Vương Lỗi và Đàm Xuyên ở lại, nhưng tình
hình khẩn cấp lúc đó, tôi không thể không làm vậy. Hơn nữa, tay chân
bọn chúng đều đã bị trọng thương, không thể tự đi lại được, nếu đèo
bòng thêm họ thì e tính mạng tôi cũng khó bảo đảm. Tôi đành phải để hai
người bọn họ lại, một mình mình tháo chạy.
Tôi vừa chạy đi,
dân chúng liền đuổi theo, quả thực trong mơ tôi cũng
không dám mơ thế.
Trong lúc chạy tôi
đã dẫm lên ruộng lúa đang chờ vụ bội thu nhờ đã cúng
máu tươi... vì thế tôi có cảm giác như đang đi qua cánh đồng có màu máu
tươi của người ta. May mắn, cuối cùng tôi đã thoát khỏi sự truy đuổi
của dân làng, tìm vào một khu rừng rậm tạm trốn. Không được bao lâu,
tôi phát hiện mình đang lâm vào một mối nguy hiểm khác - lạc đường
trong rừng rậm.
Tôi như con thú bị
mù, cứ tháo chạy lung tung trong rừng rậm, rừng rậm
quá, tôi không thể nào tìm được ra lối. Vô tình, tôi đang sống cuộc
sống của người rừng, hàng ngày, ngoài việc kiếm thức ăn để sinh tồn,
tôi còn phải cảnh giác những con thú của rừng núi.
Tôi nghĩ, người ta
sống trong các thành phố hiện đại khó có được sự thể
nghiệm như tôi hiện nay. Tôi phải sống kiểu thời nguyên thủy, hàng ngày
hái trái cây, bắt thú nhỏ ăn thịt sống uống máu tươi, đêm đêm lại tìm
hốc cây an toàn mà ngủ. May mắn quá tôi đã tìm được ra cánh đồng lúa
của dân làng này, tôi lặn lội dưới cánh đồng lúa, tìm đến những hình
nộm, cởi bỏ áo mình ra, mặc chiếc áo của người nộm. Trong những hình
nộm đó, bên trong đều lấy xương người thật làm giá chống. Không biết có
phải là xương của hai gã buôn đồ cổ Vương Lỗi và Đàm Xuyên không nhưng
tôi nghĩ bây giờ nhất định họ đã bị dân làng giết chết, máu của họ đã
tưới lên ruộng này, thịt xương của họ đã rữa nát để làm phân bón cho
ruộng này rồi.
Sống cuộc sống như
thế trong bao lâu tôi không hay biết nữa, chắc phải
ra ngoài kia nơi chốn văn minh đô thị mới biết được.
Một hôm, tôi leo
lên đỉnh một ngọn núi, thấy có một dải dây như lụa rất
dài bay theo gió, tôi lần theo thì tìm được đường cái, tôi mừng như thể
người bị tù lâu ngày tự nhiên được thả khỏi lao ngục.
Tôi chạy suốt cả
quãng đường. Nửa tháng sau, đang trong mùa gặt vụ thu,
tôi dẫn theo đội quân có trang bị vũ khí của quân đội đang đóng trong
vùng lân cận đó, đến ngôi làng của những người dân lấy người sống cúng
quỷ thần này. Nhưng chúng tôi đã lần mò suốt nửa tháng, thậm chí còn
điều động trực thăng đi thám thính vẫn không thấy dấu vết của dân làng
đó đâu cả, thế là có người nghi ngờ, họ cho rằng tôi đã báo cáo sai sự
thật.
Ngày 30 tháng 10,
tôi và lính có trang bị vũ khí trèo lên một sườn núi,
lúc đó, chúng tôi ngẩn hết người ra. Dưới chân núi là một cánh đồng lúa
mênh mông, trĩu hạt làm oằn cả thân lúa. Điều làm chúng tôi vô cùng
kinh ngạc đó là lúa ở đây đều có màu đỏ ối như màu máu tươi, cả một
cánh đồng lúa chín màu đỏ rực...
Dưới ánh trời
chiều, cánh đồng mênh mông màu đỏ rực nhuộm thắm cả một
góc trời.
Các bản vẽ phác
thảo cứ phất phới bay đầy đồng, cảnh tượng hùng vĩ
trong tranh đã ghi lại tất cả quá trình quan hệ của Tần Ca và Tạ Phi.
Đào Tử hiểu rằng, khi tất cả những bí mật đã được vạch trần, phơi bày
ra, thì đối sách cuối cùng cũng phải bắt đầu. Nhìn thẳng vào mắt người
đàn ông trước mặt, cô nói: “Trịnh Dung Tân đã chết, nếu tôi đoán không
nhầm, thì tình hình của Trần Hoa bây giờ cũng không ra gì!”
“Đấy là tội hắn
làm hắn chịu, cũng đáng thôi!” Tạ Phi nói với giọng mãn
nguyện.
“Thế thì bạn đồng
nghiệp của tôi và vợ cậu đâu?” Không thể giữ bình
tĩnh được nữa, Đào Tử xông lên quát hỏi Tạ Phi: “Họ vô tội, cậu đã biết
rõ là oán niệm trong “Bảy ngôi làng ma” rất mạnh, người bình thường sau
khi vào đó, thì nguy hiểm nhiều hơn là an toàn, thế tại sao cậu còn để
cho họ vào để phải liên lụy...?”
Thân hình dong
dỏng cao của Tạ Phi thụt lùi mấy bước, Tạ Phi bảo: “Đó
là chuyện bất ngờ không may, trong khi tôi thí nghiệm giả hôn mê, họ bị
người của Trần Hoa đưa vào trong hiện trường. Ai bảo bạn của cô xông
vào làm gì?”
“Khi bạn đồng
nghiệp của tôi phát hiện anh không làm sao, anh liền lợi
dụng tâm lý muốn đăng tin của cậu ấy, để cậu ấy thí nghiệm trò chơi
“Bảy ngôi làng ma” đúng không?”
Tạ Phi không nói
lời nào vì cơ bản không biết phải nói gì.
“Anh đã báo thù
được cho anh trai anh rồi”. Ánh mắt Đào Tử sắc như lưỡi
kiếm nhìn thẳng vào Tạ Phi, cô nói tiếp: “Nhưng cái chết của Trương Vy
chính là cái giá phải trả của anh đấy”.
Việc đã đến nước
này, điều duy nhất mà Tạ Phi khó đối mặt đó là người
vợ mới cưới của mình đang nằm trong phòng quan sát. Không muốn để cho
bất kỳ ai nguyền rủa cô ấy, Tạ Phi toan nhào lên tóm lấy Đào Tử, nhưng
vừa mới tiến lên một bước, anh ta đã bị té ngã bởi những đường dây
truyền tải số liệu.
Tạ Phi giẫy giụa
theo bản năng, không ngờ đã làm một dãy giá máy sập
xuống, những cỗ máy cứng nhắc đè lên hai chân anh ta khiến hai chân dập
nát, máu xương lẫn lộn...
Trong cơn tuyệt
vọng, anh ta thấy Đào Tử đang ráng sức nhấc không đến
nỗi vụng về. Tuy là thân gái, nhưng cô làm việc không hồ đồ, Tạ Phi
không hiểu nên gượng lấy hơi hỏi: “Tại sao cô lại cứu tôi?”
Lần này cô phóng
viên trẻ tuổi này không đáp lời, cô vừa cẩn thận bê
dần các cỗ máy ra, vừa nói: “Anh có biết các hacker thiên tài đã viết
phần mềm vi rút, khiến cho vô số công ty phá sản, công nhân thất
nghiệp, phải tự vẫn không? Và sau khi bị giam vào ngục, họ phải làm
những gì không?”
Thấy anh ta thất
thần, Đào Tử nói: “Phải sám hối, cần phải viết lại
phần mềm diệt vi rút, còn anh cũng thế, anh phải ra mà cứu vợ anh đi”.
Cô vừa nói xong thì chiếc máy cuối cùng đè trên người Tạ Phi cũng được
dỡ khỏi người anh ta.
Lúc này Tạ Phi cảm
thấy một sự khoan khoái chưa bao giờ có, chắc nó còn
khoan khoái hơn khi ở trên thiên đàng, tất cả những hận thù, tất cả
những đớn đau đều tan thành mây khói. Trước mắt anh ta, hình ảnh người
vợ hiền thục, dịu dàng, kiều diễm hiện ra - Trương Vy.
Anh ta nhất định
phải cứu lấy vợ mình - Trương Vy.
Khi niềm tin đã
được xác định, Tạ Phi liền vùng vẫy ngồi dậy nói với
Đào Tử: “Xin cô... xin cô... dẫn tôi ra khỏi nơi này”.
Lời
kết
CON
ĐƯỜNG CUỐI LÀNG
Chuyến máy bay đến
Malaysia sắp cất cánh, nơi cửa soát vé hành khách
mang hành lý, đang sắp hàng chờ lên máy bay.
Khi Trương Vy
chuẩn bị đưa vé cho nhân viên kiểm vé, bỗng nghe có ai
sau lưng gọi mình: “Cô Vy... cô Vy... đợi chút đã... đợi chút đã, còn
thiếu cái này cô mang luôn đi này...”
Vy quay đầu lại,
liền nhìn thấy ngay cậu phóng viên mà cô chỉ mới gặp
một lần, nhìn cậu phóng viên hối hả chạy đến trước mặt, cô cố nhớ lại,
hỏi: “Cậu có phải là... Hồ... Tử không?”
Thấy cô ta vẫn còn
nhớ tên mình, Hồ Tử gật đầu:
- Đúng rồi, thì ra
cô vẫn còn nhớ tôi à?
Ba tháng trước Hồ
Tử có phỏng vấn Trương Vy!
Ba tháng gần đây,
trong thế giới game có tin đồn rằng, tập đoàn phần
mềm trò chơi điện tử họ Trần hóa ra mười năm nay đã đánh cắp phần mềm
trò chơi do ông kỹ sư chuyên viết phần mềm trò chơi là Tần Ca viết ra.
Phía cảnh sát cũng tìm thấy thi thể Tần Ca đã bị chôn đến mười năm dưới
tầng hầm thứ năm của tập đoàn phần mềm trò chơi họ Trần.
Seri trò chơi “Bảy
ngôi làng ma” bị Bộ văn hóa cấm lưu hành vì đó là
trò chơi nguy hiểm, bản gốc phần mềm cũng bị tịch thu để tiêu hủy. Ông
Trần Hoa, chủ tịch tập đoàn này cũng đã biết rõ hậu quả sẽ ra
sao...!
Tạ Phi, chờ đợi
anh ta giờ là cánh cửa nhà đá, thế nhưng anh ta vẫn
không hối hận về những tội ác mà mình đã gây ra, thỉnh thoảng anh ta
vẫn nói một mình rằng: “Điều khiến ta thấy ân hận nhất là đã đắc tội
với một người con gái, người đó tên là Trương Vy”.
Sau đó, Hồ Tử và
Trương Vy gặp nhau, cuộc gặp gỡ này có một ý nghĩa
quan trọng, bởi vì nó chứng minh rằng, cả hai người đã thoát khỏi bóng
đen của “Bảy ngôi làng ma”.
Thấy chỉ có mỗi
mình Hồ Tử đến, Trương Vy hỏi: “Cô Đào Tử không đi cùng
cậu à?”
“Cô ấy đến tòa
soạn rồi”. Trong trái tim Hồ Tử, Đào Tử mãi mãi là hình
bóng Hồ Tử theo đuổi. Vừa trả lời Hồ Tử vừa mang ra một chồng thư đưa
cho cô Vy và nói: “Đây là bảy câu truyện trong bảy ngôi làng ma, tôi đã
sửa chữa xong hết rồi, mong cô mang theo luôn”.
Thấy cô Vy không
hiểu, Hồ Tử nói: “Đòn đau nhớ đời, tôi mong rằng, mỗi
khi cô xem truyện này thì dù sau này có gặp phải khó khăn bao nhiêu cô
cũng sẽ vượt qua được!”
Đưa tay lấy tập
bản thảo, Vy bỗng thấy sức mạnh trong cô tăng lên rất
nhiều. Vy mỉm cười, nay Vy đã mạnh mẽ hơn trước nhiều rồi.
Điều đáng sợ nhất
không phải là cái sợ do ngoại cảnh mang lại.
Cái cần phải mạnh
mẽ hơn, không gì khác hơn ngoài sự mạnh mẽ của trái
tim và tinh thần.
Hết